CHIẾC NÔI ĐẦU ĐỜI
Truyện Ngắn
Cháu là người đầu tiên của dòng tộc nhà mình được sinh ra trong ngôi làng này đó, sau này cháu phải cố làm sao cho dòng họ nhà mình được mở mày nở mặt với người ta nghe cháu. Ông nội thường vuốt tóc và âu yếm nói với tôi như thế mỗi lần ông-cháu có dịp gần gũi bên nhau. Tuy còn nhỏ dại, chưa thấu hiểu hết những điều ông dạy bảo nhưng tôi vẫn đinh ninh trong bụng là sẽ làm đúng như ý ông, bởi, nội là người mà suốt cả đời, luôn làm cho tôi kính yêu và ngưỡng mộ hơn ai hết…
Theo như lời bố thì nội là người có máu giang hồ lãng tử gi gì đó. Sinh ra ở một quê xứ nghèo đến đỗi chó ăn đá-gà ăn muối; chưa đầy mười sáu tuổi ông đã bỏ làng ra đi tìm kế sinh nhai. Chỉ với một cái túi đựng cưa-bào-dùi-đục, ông lang bạt hết làng này qua làng khác miệt mài xây dựng sự nghiệp cho tới ngày gặp được bà nội và cưới luôn làm vợ. Bà nội không hẳn là người con gái đẹp nhất làng nhưng được ông quí trọng và yêu thương; bà cũng biết thế nên cố gắng hết mình để mang lại hạnh phúc đáp đền cho ông. Bà đúng là mẫu người thuỷ chung hiền thục, một lòng một dạ phục tùng chồng; ý ông thế nào thì ý bà cũng vậy, chưa bao giờ hai người có chuyện cãi vã lớn tiếng vì bất đồng chuyện này hay chuyện nọ. Hơn chục năm sau ngày cưới, bà lễ mễ khăn gói theo chồng dọc ngang hết vùng này sang miền khác. Ông nội thì chả thích ở lâu một chỗ, cứ vừa dọn tới đâu đó một thời gian, khi mà những niềm vui của sự đổi thay qua đi là ông lại bốc cả nhà dời đi nơi khác; bởi vậy cái tên của bố và mấy cô chú tôi nghe rất ngộ. Đại loại bố tên Đuồi vì được sinh ra cuối doi cồn cát bên bờ sông trong một chuyến chợ phiên. Chú tôi thì khi mới sinh ra còn đỏ hỏn, gặp lúc giặc giã tràn tới, cả nhà phải đùm túm ôm nhau chạy loạn nên đặt tên là Chạy. Cô Rơi thì bị đẻ rớt ở vồng khoai lang…vv…và…vv….
Khi ông quyết định cắm dùi vĩnh viễn ở làng này thì bố tôi đã trên dưới ba chục, còn cô Út cũng vừa ưa tới tuổi lấy chồng.
Thật ra khi ông mới tới ngụ cư, cảnh vật nơi đây còn mang vẻ tiêu điều hoang sơ lắm; lèo tèo đâu khoảng mươi nóc nhà thưa thớt do một nhóm nhỏ cư dân từ làng trên tách ra nằm rải rác trên bãi cát dài mênh mông, dày đặc toàn xương rồng và những cây dứa dại nên chưa thể gọi là làng được. Cụ Tổ làng sau mấy mùa liền thất bát thấy không thể sống thuần bằng nghề nông được mới đề xuất với ban hương lý cho mình và con cháu được dời ra doi đất phía dưới để làm ăn sinh sống. Mót máy hết lưng vốn, cụ cũng chỉ vừa đủ tiền nộp phí lệ làng cho xuất đinh và xuất ấp nhưng điền thì đành chịu. Bởi thế cả làng chẳng một ai có lấy mảnh đất canh tác. Cũng may sản vật của vùng đầm phá rất phong phú; những năm đầu dân làng mò cua bắt hến ở ven bờ đem bán, mua lại lúa gạo cũng đủ đắp đổi qua ngày. Đối với lũ trẻ chúng tôi, phá Tam Giang không những là người mẹ bao dung đã cưu mang mấy đời ông cháu mà còn là người bạn thiết thân qua từng tuổi lớn; từ lúc tóc còn để chỏm, ở lỗ tồng ngồng chạy chơi trên rìa phá hoặc cùng nhau bưng đất làm đìa, đào ao tát cá, chia phe tập trận, đùa vui trửng giỡn… Rồi tới một lúc nào đó, đôi tay biết nắm lấy quai chèo, đôi chân biết nhún nhảy sau dầm lái với giọng hò mới vừa vỡ tiếng, khàn khàn y vịt đực; rồi tiếp nối là những đám cưới, rước họ đưa dâu, gắn kết cuộc sống lứa đôi giữa hai bến bờ sông nước…
Khi vừa tròn sáu tuổi, một lần ông nội dẫn tôi ra đứng trước sân nhà, ánh mắt hể hả đưa tay chỉ bao quát một vòng ngôi nhà ba gian hai chái xoa tay mãn nguyện:
-Cháu thấy cơ ngơi của ông có bề thế không?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã tiếp với giọng trầm buồn như mơ màng tiếc nuối:
-Giá như ông đây chịu khó ở yên một chỗ thì nói chi tới nhà ngói ba gian mà phải là…
Bà đang ngồi bên cơi trầu nghe ông nói vậy, nheo mắt nguýt một cái rõ dài:
-Hai ông cháu lại bắt đầu nói dóc rồi đó.
Tôi kề bên tai ông nói nhỏ:
-Ấy. Bà giận ông rồi đấy!
Ông cười khà:
-Dễ gì giận ông được hả cháu. Để rồi xem…
Coi bộ thường ngủng ngẳng thế nhưng ông bà thương nhau ra phết, rất hiếm khi họ giận hờn, trách móc hay đỗ lỗi cho nhau. “Hơn thua làm gì để rồi sứt mẻ tình cảm gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau”. Ông thường nói với bạn bè như thế: “Nhịn là tốt nhất, mình đã chịu thua thì đối phương lấy gì gây hấn hà, hà…”.
Một bận không hiểu chuyện gì mà bà nội hờn lẫy, chê bai ông đủ thứ, ông chỉ cười cười, nửa đùa nửa thật bảo: “Tội nghiệp cho bà. Không ngờ xui xẻo lấy phải một ông chồng tệ quá. Mần răng đây hở?” -Đang thao thao bất tuyệt, nghe vậy bà đâm ra chột dạ, biết mình đã ăn nói quá trớn. Từ đấy hễ khi nào giận dỗi, bà chỉ dám hành hạ lũ chén bát trong chậu rửa, khua khoắn cho tụi nó chửi lộn lẫn nhau một lúc để hả dạ chút đỉnh rồi thôi.
Hồi đó, thường khoảng ba tháng một lần, các quan hàng tổng, bạn bè thân hữu và đám chức việc quen biết, sau buổi lên huyện vấn an mấy vị bề trên trở về, thế nào cũng ghé thăm ông, vầy cuộc tổ tôm, đổ xâm hường hoặc chơi trò mạt chược; sau khi mãn cuộc thì ngồi lại cùng đánh chén lai rai; nhà cửa hôm đó thiệt đông vui rộn ràng như ngày hội. Bọn trẻ loi choi như chúng tôi quả là khoái chí vì được ông giao cho nhiệm vụ quan trọng là đi cắt cỏ tươi đem về bỏ đầy mấy chiếc giỏ tre đeo dười cổ ngựa cho chúng ăn. Được dịp vỗ về chăm sóc, tận mắt, tận tay rờ bụng rờ mông mấy chú ngựa thồ cao lớn dũng mãnh oai phong, bọn nhóc chúng tôi không những thỏa mãn cái tính hiếu kỳ, mà lại còn được các cụ thưởng cho mấy xu bạc cắt, túi kêu rủng rẻng nghe thật vui tai nên mặt mày đứa nào cũng tươi roi rói.
Vốn biết tính ông nội sính khách lại hơi nóng nảy nên người nhà ra sức đốc thúc nhau hối hả dọn bàn, lắm lúc để xảy ra sơ sót. Một lần, ngồi vào bàn tiệc, nội tinh mắt phát hiện trong đĩa thịt phay có lẫn cái mề gà còn dính chùm với cuống họng chưa kịp bóc ra, vội gắp hết bỏ vào chén mình tránh để quan khách khỏi nhìn thấy. Hôm sau nội kêu mọi người lại, ai cũng len lét nhìn nhau e rằng sẽ bị quở trách một trận tơi bời hoa lá, nhưng hóa ra ông chỉ dịu dàng dạy bảo: “Phàm việc gì cũng vậy, biết cách sắp xếp thì vừa nhanh lại vừa gọn cả thôi. Như chuyện hôm qua ấy, nếu ngại khách khứa chờ lâu thì sau khi vặt sạch lông gà, ta tách riêng hai đùi luộc trước đem bóp rau răm cho họ nhắm lai rai, các món khác từ từ xào nấu rồi tiếp tục dọn lên có phải nhất cử lưỡng tiện không?”. Ông tôi là vậy đó, không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để giảng giải và truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết của mình cho những người xung quanh (tuy có hơi dài dòng văn tự một chút); nhiều lúc quá cao hứng, ông diễn thuyết say sưa đến sùi bọt mép. Tội nghiệp bà, cặp mắt cứ phải nhấp nháy nom theo từng động tác của ông, ngay ngáy thầm lo cho cái mạng sống mong manh của lũ chén bát và mấy thứ đồ cổ đắt tiền, bởi trong lúc diễn giải, ông có thể khua tay, múa chân hoặc tùy tiện cầm chúng, ơ hờ đặt vào bất cứ góc cạnh, xó xỉnh nào.
*
Khi đã cảm thấy tuổi già sức yếu, nội giao hết công việc trong ngoài cho bố, bây giờ ông chỉ thuần nằm đọc truyện Tàu, chăm sóc cây cảnh, đi thăm thú bạn bè đâu đó hoặc lâu lâu mời họ tới chơi nhà cùng uống trà, thả thơ ngâm vịnh gọi là: Tuổi cao còn lắm ước mơ - Trồng cây cho đất, làm thơ cho đời. Những cuộc họp mặt của mấy ông bạn già thiệt ngộ; nhiều khi họ ngồi với nhau suốt buổi chẳng thèm nói năng tâm sự gì sất, vậy mà xem ra khi từ giã ra về họ lại rất vui, rất hào hứng và thoả mãn.
Tuy không giữ một chức viêc gì trong làng xã, nhưng ông nội lại được bà con trọng vọng gọi là ông Bộ do thường ra tay hóa giải thành công những vụ tranh chấp đất đai nho nhỏ, những chuyện bất hòa trong gia đình hay kiện tụng linh tinh không đâu vào đâu làm mất tình cảm hàng xóm láng giềng…Bà nội vốn là người chu đáo, sắm sanh cho ông đầy đủ lệ bộ nào là áo dài the thâm, khăn đóng, giày hạ… để mỗi lần đi đây đi đó hay tham gia phương việc hành lễ, tế tự ở đình làng miếu mạo được danh giá bài bản, còn ở nhà thì may cho ông áo vạt hò ba tà, quần đáy chèn dăm bộ, nhưng hễ mỗi khi cần lấy ra mặc, nhiều lúc tìm tới đỏ con mắt chẳng thấy đâu. Bị bà hỏi riết ông đành sường sượng nhỏ giọng thú thiệt: “Thông cảm hoàn cảnh anh bạn xóm trên nghèo khó hơn mình nên đem biếu cả”. Lần này bà nội giận ông khá lâu, chẳng thèm nói năng trò chuyện ba bốn ngày liền; nhưng rồi với cái tài tiếu lâm đàng điệu của mình, ông buộc bà phải cười lăn chiêng đổ đèn, và cuối cùng, mọi sự đâu lại vào đấy.
Là một người thông nho lại biết cả chữ quốc ngữ nên ông nội rất yêu thích thơ phú-văn chương. Hằng năm, cứ mỗi dịp đầu xuân ông khai bút một lần. Những bài thơ làm được trong dịp này ông gởi tới nhóm bạn bè thân hữu cùng thời học chữ Hán-nôm còn sót lại, hẹn nhau đúng đêm nguyên tiêu kéo ra giữa lòng sông, uống rượu thưởng trăng và xướng ca ngâm vịnh. Họ gọi đó là Bữa tiệc Tản Đà trên giòng phá Tam Giang.
Vào khoảng chạng vạng tối đêm rằm tháng giêng, không gian vừa mới nhọ mặt người, mọi người đã tập hợp đông đủ ở điểm hẹn rồi lục tục bước lên hai chiếc đò không mui nằm chờ sẵn với đám trạo phu có tay nghề lão luyện chèo thẳng một mạch ra khơi rồi ghép chặt song đôi với nhau, và neo vào giàn sáo cắm bên mé giữa lòng sông. Họ đủng đỉnh châm trà, vừa uống vừa tán gẫu chuyện nhân tình thế sự, chờ tới lúc nửa khuya, khi mà không gian trở nên tĩnh lặng không còn bị khuấy động bởi tiếng sanh gõ nhịp của nhóm vạn chài đánh bắt cá tôm mới lễ mễ đem các món nhắm do bà nội đã gia công tỉ mẩn tỉa tót cẩn thận mấy hôm trước đặt vào chiếc mâm gỗ ở giữa khoang đò, sau đó họ ngồi xấp bàn sát cánh bên nhau, sửa soạn cho thật đúng lệ bộ rồi trang trọng cầm ly rượu sủi tăm nâng lên ngang mày, mời nhau theo nghi tục đầu tiên: chiêu một ngụm, chiêu hai ngụm rồi ngửa cổ nốc một hơi cạn ngụm cuối cùng với tiếng khà…(à) sảng khoái. Vừa ưa, chủ đò vớt từ chiếc nò đơm chú cá đối to đùng đang quẩy cựa lung tung, chỉ trong nháy mắt làm sạch lòng ruột, bỏ vào nồi nước sôi luộc vừa chín tới, họ chất đầy tô những lát chuối non xắt mỏng cùng các loại rau ghém, khúc cá béo ngậy rồi rưới thứ nước lèo sền sệt được quết nhuyễn bằng ruột gan cá đối, đậu phụng, mè, ớt-tỏi-chanh-đường và thồn vào miệng cho hai má căng phồng, nhồm nhoàm nhai để kích thích tuyến nước bọt từ chân răng tươm ra, trung hòa với món nhắm rồi trợn mắt nuốt ực vào bụng, tận hưởng hương vị của cái thú phàm phu, ngon không chê vào đâu được.
Cứ thế, rượu bọt sóng sánh sủi tăm, món ăn có thanh có tục, câu chuyện mỗi lúc càng rôm rả ý hợp tâm đầu. Họ đi vào cuộc chơi tự nhiên như nhiên, sẵn tự bao giờ:
Tôi rót cho anh chén tím này
Biển trăng cùng uống với ta đây
Nâng lên sóng biển xô vào chén
Để xuống thì trăng lại rót đầy… (*)
Dưới ánh trăng của đêm nguyên tiêu sáng trong vằng vặc in rõ cả bầu trời-sao lung linh đáy nước cộng với làn gió mát rượi hây hây từng đợt lướt qua, đưa cuộc tiệc thăng hoa, khơi mào cho niềm vui tuôn tràn cảm hứng. Ngồi bên các cụ hầu rượu, tuy chẳng hiểu thế nào là tuý ngoạ sa trường… là thất thập cổ lai hy… gì gì đó nhưng bị lây bầu khí hào hứng sinh động của các bậc trưởng thượng, bất giác tôi cũng nhe răng cười hỉ hả.
Rồi có ai đó ngâm lên mấy vần thơ lục bát, có ai đó đem phổ giai điệu vào những câu hò mái nhì mái đẩy. Giọng ca nhừa nhựa tuy không điệu nghệ nhưng chơn chất, hết ý hết tình. Và bỗng dưng giữa bầu khí hoang liêu cô tịch, tiếng sáo vút cao trong không gian vời vợi, đưa những dòng âm ba lượn lờ theo sóng nước muôn trùng như dẫn dắt hồn người đi vào chốn bồng lai tiên cảnh…
Huyền thoại bà chúa Tơ hiện ra với dáng vẻ kiêu sa lộng lẫy trong tiếng thầm thì của nội: -Cháu biết không? Xưa kia làng mình nghèo khó lắm. Ruộng nương chẳng có, chỉ vùng đầm phá này là nơi bà con dựa vào để đánh bắt cá tôm tạm sinh sống qua ngày, nhưng muốn đánh bắt cá tôm cũng phải trả tiền thuê “mặt nước” cho hương chức của một làng khác. Nếu như không có bà chúa Tơ người con gái hiền thục họ Trần…
Tôi “Dạ…” một tiếng, nghe mỏng tanh như hơi gió thoảng, e sẽ làm tan loãng cõi linh thiêng
… -Bà rất đẹp lại nổi tiếng hiền đức, được vua yêu, sắc phong làm vương phi. Mặc dù sống trong cảnh sang giàu quyền quý, thưởng thức đủ các món sơn hào hải vị, được các nô tỳ lúc nào cũng sẵn sàng săn đón cung phụng, nhưng bà vẫn luôn canh cánh bên lòng về nơi chốn xuất thân của mình, ở đó, bà con đang bần hàn vất vả kiếm sống từng ngày. Nhân ngày mừng lễ tứ tuần, lợi dụng lúc nhà vua đang vui vẻ, bà giải bày cái tâm nguyện của mình, và xin ban cho một đặc ân, may sao, được ngài chấp thuận ngay. Bà mừng rỡ, lập tức cho người lấy dây tơ bện một cái quai chèo thật bền-chắc, rồi chọn ngày lành tháng tốt, lựa điểm xuất phát ngay giữa lòng sông, tự mình chèo ngược lên vùng thượng lưu cho tới khi kiệt hết hơi sức, quai chèo rệu toác mới thôi. Từ đấy, phía tây kêu thượng trung cừ, phía đông gọi xạ long cốt chính là phần thuỷ giới bà chúa Tơ dành tặng cho quê hương bản quán. Nhờ đó, con dân làng mình mới được an cư và lạc nghiệp. Hằng năm khỏi phải định kỳ mang khăn đóng áo dài sắm sanh lễ vật vượt đồi vượt suối cầu cạnh van xin.
… Tới đây, giọng nội tự nhiên trở nên bức thiết: “Sau này dẫu cháu có làm gì, ở tận nơi đâu cũng nên cố gắng tìm về với quê hương bản quán. Cháu phải hiểu: Cây có cội mới toả cành xanh lá - Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu - Con người ta có trước có sau - Có tiên có tổ rồi sau mới có mình. “Uống nước nhớ nguồn” là vậy đó cháu ạ”!
Người đời thường nói: -Sự gian khổ đau buồn đã trải qua thường làm cho ta nhớ mãi nhưng với riêng tôi thì những kỷ niệm về những năm tháng tuyệt diệu được ở bên ông chẳng bao giờ có thể phai mờ trong ký ức. Giờ đây, tôi ước gì có ông bên cạnh, ở ông, bao giờ tôi cũng tìm được an ủi trong những lời nói yêu thương, sự thông cảm và lòng nhân ái của người. Qua nội tôi đã học được tính cách mạnh mẽ, linh hoạt để ứng xử với đời đúng thời đúng lúc nên rất ít khi vấp ngã sót sai. Nhờ vậy mà đôi khi trên bước đường đời gặp phải những chông gai ngáng trở, tôi không cảm thấy bất hạnh chán chường mà vẫn luôn lạc quan, có đủ định lực và dũng khí vượt qua không bỏ cuộc giữa chừng. Nội không những nuôi tôi khôn lớn, dạy cho tôi biết điều nhân nghĩa mà còn biếu thêm cho tôi cả hạnh phúc lẫn ước mơ…
Năm tháng qua đi. Tôi bây giờ cũng đã bước tới cái ngưỡng của tuổi già. Chẳng biết có phải do nghiệp dĩ hay không mà tới lượt mình, tôi lại cũng lên đường hát bản du ca đi tìm miền đất mới. Cuộc sống tha hương về vật chất tuy có phần thư thả hơn nhưng cũng phải lao lung vất vả lắm mới có đủ cái ăn cái mặc chứ không hẳn là ngồi mát ăn bát vàng như người thân ở quê nhà thường lầm tưởng. Tôi vẫn tìm dịp về lại quê xưa mỗi khi có cơ hội, và một khi đã ở ngay trong lòng đất mẹ tôi mới tìm được cái cảm giác yên bình của những tháng ngày xưa cũ, thiêng liêng và gắn kết như chưa bao giờ chia lìa phân cách.
Tết năm nay không thể sắp xếp về thăm quê như mọi bận. Ở xứ người, Nguyên Đán chẳng phải là lễ chính nên không có ngày nghĩ, tôi phải chọn ngày chủ nhật gần nhất làm lễ cúng tất niên để cháu con có dịp đề huề sum họp, lưu giữ nếp xưa.
Mấy nàng dâu và cô con gái rượu của tôi xúm quanh bà xã quan sát, thấy bà chăm chút nấu nướng bày biện mâm cổ quá tươm tất thì trầm trồ:
-Ô. Mẹ khéo tay quá, tỉa tót bông hoa, đầu rồng đuôi phượng cứ y như là thật. Tụi con thiệt vụng về, chẳng biết làm một thứ gì cả.
Biết con cái tủi thân, bà xã tôi ngước đôi mắt hiền từ nhìn từng đứa dịu lời thông cảm:
-Không hẳn vậy đâu. Đời sống công nghiệp là phải rứa thôi. Đồ ăn làm sẵn chất đầy mấy cửa hàng cũng ngon chán. Tội gì phải mất thì giờ, vừa mệt vừa không được nghỉ ngơi dành sức làm việc.
Lũ cháu nội-ngoại lóc nhóc thì hùa tới túm áo hỏi tôi:
-Ông ơi! Mình mở tiệc chiêu đãi ai vậy ông?
Tôi âu yếm xoa đầu từng đứa, rồi thủng thẳng trả lời:
-Hôm nay là ngày Tết, nhà mình dọn cổ mời ông bà tiên tổ về thưởng thức đó.
Nhưng chúng vẫn thắc mắc:
-Xa vậy làm sao ông bà tới đây được?
Câu hỏi ngây thơ của đứa cháu hiếu động làm tôi chững đi giây lát.
-“Ừ, ông bà mình trước giờ toàn đi chân đất, chỉ loanh quanh trong mấy lũy tre làng, liệu có biết đường qua đây sum vầy với con cháu không nhỉ”.
Đang loay hoay suy nghĩ chưa biết trả lời sao cho thỏa đáng với thằng cháu đích tôn thì đúng lúc, tiếng bà xã từ nhà bếp vọng lên, báo cổ bàn đã chuẩn bị xong xuôi giúp tôi tránh được câu hỏi “khó” của bọn trẻ liền đứng dậy, chỉ bày cho mấy cậu con trai sắp đặt cổ bàn đâu đó rồi từ tốn bước tới trước bàn thờ đốt mấy nén nhang, lâm râm khấn vái. Mùi trầm hương nồng đậm, nghi ngút tỏa lan khắp nhà nghe thật ấm Và bỗng dưng, cõi hữu hình và vô hình như đan quyện vào nhau. Quá khứ, hiện tại, tương lai như cùng lúc hiện diện. Trên bàn thờ tuy chẳng có tấm hình ai cả, bởi thời các cụ, tiệm chụp hình còn là của hiếm, nhưng nhìn lên, tôi thấy tất cả những người thân yêu đã mất như đang trở về sum họp đề huề giữa đám con cháu miền xa. Thời gian đã trở thành vô nghĩa. Tôi như đang là thằng bé loắt choắt bám sau đít ông nội ngày nào, chực chờ Người sai phái bảo ban…