Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

XUÂN MÙA LƯU XỨ - Nguyên Đạt

Mẹ ơi xuân lại đến rồi
Mà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Đường chiều rủ lá-cánh hoa lịm buồn

Chơi vơi nỗi nhớ niềm thương
Gọi miền ký ức để vương vấn lòng
Quê người chừ đã vào đông
Bốn bề tuyết phủ núi rừng thê lương

Cảnh đời lưu xứ tha phương
Tết về càng thấy cô đơn muộn phiền
Đêm hằng mơ chuyện đoàn viên
Gom vào giấc ngủ cô miên hao gầy

Dẫu trong cuộc sống no đầy
Làm sao quên được tháng ngày hàn vi
Xác thân dầu đã ra đi
Hồn con vẫn mãi khắc ghi ơn đời

Mẹ ơi xuân lại đến rồi
Mà con thì vẫn phương trời ngái xa
Đáu đau ánh mắt quê nhà
Chiều nghiêng rủ lá-cánh hoa niệm buồn




CHIẾC CẦU MƠ ƯỚC - Tùy bút - Nguyên Đạt

Quê tôi nằm bên bờ phá Tam Giang hiền hoà thơ mộng bốn mùa nước mát trong xanh; tuổi thơ tôi là những tháng ngày rong chơi cùng đám bạn bè trên rìa phá. Cuối ngày, sau những phút nô đùa tắm táp thoả thuê, cả bọn thường tụ lại một chỗ đứng ngắm ráng chiều, chí chóe cãi nhau những mãng màu luôn thay hình đổi dạng giữa bầu trời thênh thang gió lộng, rồi lại phóng tầm mắt mơ màng qua thảm nước mênh mông phía bờ đất xa thẳm bên kia chân trời, thả cho đầu óc lượn lờ phiêu du tưởng tượng. Trong đám lóc nhóc hồi ấy đặc biệt có thằng Đạm tuy nhỏ tuổi nhất bọn nhưng lại được bố mẹ thỉnh thoảng cho tháp tùng theo những chuyến buôn bán ở các phiên chợ định kỳ miền xa; mỗi lần về, nó thường lấy câu chuyện làm quà, nào là có rất nhiều con đường sạch bong hơn cả nền nhà chúng tôi, ngoài đường cũng thắp điện sáng choang, rồi đèn xanh đèn vàng nhấp nháy suốt đêm khiến cả bọn cứ thế đứng há hốc mồm lắng nghe. Đi càng nhiều, chuyện kể của Đạm càng ly kỳ hấp dẫn khiến cho nỗi khát khao được thoát khỏi làng quê đi đây đi đó thăm thú những miền xa cứ sôi lên trong tôi, chập chờn cả trong giấc ngủ.
Một lần, tôi thăn thỉ cha: “Cha ơi! Khi mô có dịp, cho con qua bờ bên nớ chơi cho biết với nhé!” thì ông buồn rầu bảo: -Khó lắm! Phải mất ít nhất hai tiếng đồng hồ chèo đò đấy con à. Với lại chuyện sông nước khó lường, cha mẹ cũng vì ngại con cái đi thuyền, đi đò cận kề nguy hiểm cứ thấp thỏm lo âu nên không dám cho theo tiếp lớp trên, đành chịu thất học. Ôi! Chỉ cách một dòng sông mà sao bên nớ lại văn minh phồn thịnh, còn bên ni thì lạc hậu đói nghèo, tiếc quá.
Ông thở dài đánh sượt, giọng cảm thán:
-Giá như có được chiếc cầu bắc qua sông… Ừ. Nếu như có chiếc cầu…
Từ đấy, chiếc cầu luôn là hình ảnh ước mơ trong tâm tưởng của tôi.
Lớn lên, thi vào sư phạm, sau khi tốt nghiệp, tôi chọn nhiệm sở tỉnh Phú Yên, và được điều về dạy học tại một ngôi trường miền xa nằm bên kia sông Đà. Hồi đó con đường xuyên Việt qua Tuy Hòa duy nhất chỉ có chiếc cầu sắt thanh mảnh đen sì nối kết hai bờ sông nước dành cho cả người đi bộ, tàu lửa, xe cơ giới lẫn các phương tiện vận tải thô sơ. Do chịu đựng quá tải nên ván cầu, bù long đinh vít cơi lên, gập ghềnh chỗ cao chổ thấp; lòng cầu lại hẹp, nhiều tấm bị mục không kịp thay bởi xe cộ chạy liên tục, tạo nên những “ổ gà” như cái bẫy rất nguy hiểm, nếu tay lái không vững thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra.
Ngay lần đầu tiên vượt cầu bằng xe Hon-đa tôi đã thót tim vì sợ hãi, còn anh bạn cùng trường thì nửa đùa nửa thật:
-Sao nó giống như chiếc cầu “tử thần” trong phim “Cầu sông Kwait” thế nhỉ!
Tôi vốn nhát gan, mỗi khi qua cầu thường để mặc cho anh bạn cùng trường đèo bòng, có lúc ngán quá tôi nhắm tít hai mắt, ôm chặt lưng cậu ta không dám nhìn ngang nhìn dọc, và chiếc cầu sắt ấy một thời đã từng là nỗi ám ảnh miên trường của tôi.
Thế rồi vào một chiều đầu mùa lộng gió, sau buổi dạy muộn từ trường về gần tới chân cầu, chúng tôi bắt gặp cô nữ sinh áo trắng dáng bộ hơ hãi, đứng ngay đầu cầu nhìn ngược nhìn xuôi như đang trông chờ ai đó, khi vừa thấy chúng tôi trờ tới, nàng tỏ vẻ mừng rỡ chạy ra đón lỏng:
-Anh ơi! Giúp em đưa chiếc xe máy qua sông với.
Bạn tôi tính ưa ga-lăng quay lại nhìn tôi nói hộ:
-Cậu giúp cô ấy đi.
Vậy là phần vì thể diện phần khác vốn cũng thương người, tôi gồng mình lái giúp; chạy được một đoạn chưa kịp mừng thì bất đồ một cơn gió xoáy tạt ngang khiến tôi giật mình suýt lạc tay lái, luýnh quýnh thế nào chiếc bánh trước bị lọt ủm vào khe giữa đường ray, cả hai cố lấy hết sức bình sinh hì hục vừa lôi vừa kéo trong khi phía sau do xe cộ bị ùn tắc nên bóp còi inh ỏi, mất hồi lâu chiếc xe mới chịu nhúc nhích; nhưng thật bất ngờ, khi vừa ngóc đầu lên thì chiếc xe như con ngựa bất kham tuột khỏi tay, lao đánh sầm vào mấy thanh sắt bảo hộ ở mé cầu, tay lái, đèn-vè vỡ nát; thì ra do vô ý, chúng tôi vẫn để xe cài nguyên số mà cứ mê mải tăng ga! Một tháng lương là cái giá rờ-tút lại chiếc xe để cứu “nàng” thoát khỏi… trận đòn bởi cái tội chưa được phép má lại dám lén lấy xe rong chơi thị xã, nhưng bù lại, chúng tôi có được mối duyên tình mộng mơ vĩnh cửu.
Từ đấy, chiếc cầu sắt đen sì trở nên một hình ảnh đẹp đẽ thân thương đối với cả hai chúng tôi,
… Cuộc sống cứ tuần tự trôi đi, trôi đi, tuy hiền hoà yên ả nhưng thâm tâm tôi thì vẫn luôn lưu giữ một điều trăn trở, đó là vẻ mặt vọng mơ của cha khi một lần người thầm thì thăn thỉ:
-Con ráng học giỏi, mai này lấy được tấm bằng kỹ sư về xây dựng chiếc cầu cho quê hương làng nước để bà con mình bớt khổ.
Tôi đã rẽ sang một lối khác bởi một lý do bất khả, không hoàn thành được tâm nguyện của cha già

-Không thực hiện được kỳ vọng của cha, anh cảm thấy ân hận lắm mình à!
Một lần không cưỡng được tình cảm, tôi đem nỗi niềm tâm sự giải bày với bà xã thì nàng sốt sắng bảo: -Không sao. Mình sẽ hướng dẫn, vun đắp cho con trai để nó thực hiện ước mơ của ông nội.
Vậy là từ đó tôi có thêm một đồng minh chung niềm mong ước, mong ước cậu con trai thành tài về đóng góp công sức với mọi người nơi quê nhà dựng xây một cây cầu hoàn chỉnh giúp bà con hai bên qua lại giao lưu, buôn bán làm ăn, tạo điều kiện cho quê hương phồn vinh và phát triễn. Nhưng rồi mộng vẫn không thành bởi biến cố một chín bảy lăm cho gia đình thêm một lần ly tán.
… Ngày tháng đi qua, núi Nhạn sông Đà, nơi ngụ cư và là quê hương thứ hai của tôi, những chiếc cầu kế tiếp được dựng xây, nhưng ở quê nhà xa kia, chiếc cầu ước mơ bắc qua phá Tam Giang vẫn mãi hoài còn nằm trong mơ ước. Giờ đây, khi đã được bước chân lên nước Mỹ ngàn trùng xa cách, một nơi được coi là miền đất hứa của bao người, bao thế hệ, tôi lại có một ước mơ khác, đó là một chiếc cầu xuyên suốt đại dương nối kết tình người, xóa đi những đau thương sầu hận, những thế lực tàn ác để cho dòng tộc, bạn bè, người thân có dịp tái hồi đề huề sum họp dài lâu.
Ước một ngày đời hết gió mưa
Mây xoãi tóc phơi mình trong nắng mới
Dòng sông mơ chắp nhịp cầu đón đợi
Đứa con còn phiêu lãng chốn mù khơi…

Tháng 9/2010
Nguyên Đạt

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

VẦNG TRĂNG THƠ

Viết tặng Ngọc Hà-Bạn diễn

Ngọt ngào khúc hát em ngân
Đưa anh về lại mùa xuân giữa đời
Giao thoa với đất cùng trời
Anh mang tiếng sáo ngỏ lời yêu thương

Cơn mơ cứ ngỡ vô thường
Bỗng dưng nở đóa quỳnh hương ngạt ngào
Không gian vời vợi trăng sao
Lời thơ vành vạnh xiết bao nghĩa tình
Bỗng nghe cuộc sống yên bình
Trong lòng cổ tháp trọn tình thủy chung
Ngọt ngào khúc hát em ngân
Anh về tìm lại mùa xuân của đời

Nguyên Đạt




Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

CÓ MỘT TRƯƠNG CHI TRÊN ĐỈNH NHẠN

Hội thơ Nguyên tiêu truyền thống núi Nhạn (Tuy Hòa, Phú Yên) vào Xuân Kỷ Sửu này là lần thứ 29. Ấn tượng của đêm thơ trên đỉnh núi Nhạn là có dáng hình hao gầy của nghệ sĩ sáo trúc Nguyên Đạt; đôi khi anh nghiêng ngả thả hồn theo tiếng sáo thơ, quên bẵng là đang biểu diễn trước thiên hạ...
Trụ được nhờ “mối tình thứ hai”
Người truyền nghề thổi sáo cho Nguyên Đạt khi mới lên mười còn ở quê chính là ông nội, với mong mỏi đứa cháu “luôn giữ gìn cho tiếng sáo tinh sạch, thanh cao”. Từ đó, chiếc sáo trúc đã gắn bó vỗ về đời anh trên bước đường luân lạc. Năm 1968, tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, Nguyên Đạt vào Phú Yên dạy học gần suốt 20 năm, nhưng rồi anh buộc phải từ giã bục giảng vì lý do không đủ tiêu chuẩn vào biên chế chính thức...! Nguyên Đạt tâm sự: “Bao nhiêu khát vọng cao đẹp với nghề “gõ đầu trẻ” bỗng chốc bị cắt ngang, làm mình như không còn trụ vững. May nhờ có “mối tình thứ hai” với nghệ thuật đã giúp mình tìm lại niềm vui cuộc sống”. Trong khốn khó, tiếng sáo và văn chương như được dịp bùng phát, dịu xoa niềm tiếc nuối của đời anh, nhất là những ngày thời bao cấp mà lại bị mất việc làm. Những năm 80 của thế kỷ trước, cả nhà anh phải tần tảo đủ nghề buôn thúng bán bưng, trong đó, “ông giáo bán trứng vịt lộn” đã được bà con xóm ga Tuy Hòa gắn cho anh hiện vẫn chưa trôi vào quên lãng. Anh làm thơ, viết truyện ngắn và tạp văn khá nhiều vào giai đoạn này nhưng nỗi nhớ nghề sáo và những đêm thơ thời sinh viên, đi dạy vẫn thao thức không nguôi. Nguyên Đạt kể: Một chiều ngồi bán trứng, chợt nghe loa truyền thanh phát chương trình thơ, thế là tiếng đàn tranh – sáo – thơ đã làm anh mất ngủ, ngồi bờ hè thổi sáo suốt đêm... Sáng mai, anh xách sáo đi tìm bạn.
Và người đưa Nguyên Đạt đến với đêm thơ Nguyên tiêu Phú Yên là ông Dương Thái Nhơn (Giám đốc Thư viện Phú Yên) và nhà thơ Nguyễn Tường Văn (biên tập chương trình văn nghệ Đài Phát thanh Phú Yên). Ấy là năm 1989, khi Phú Yên vừa tách với Khánh Hòa, chương trình thơ của đài tỉnh đang thiếu những giọng ngâm và những người đệm thơ. Thế là “các nghệ sĩ”: sáo trúc Nguyên Đạt, đàn tranh Hoàng Hường, đàn bầu Thanh Phong-Kìm Mai Hoàng cùng ngâm sĩ Ngọc Hà-Vân Phi-Bích Trâm-Thu Thủy... đã có đất dụng võ. Nhưng có lẽ những đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn mới thực sự tỏa hết cái hồn của Nguyên Đạt với cây sáo trúc. Theo anh, đó là niềm cảm hứng cộng hưởng và giãi bày giữa những người đồng điệu, giữa đất trời thiêng liêng; đó mới là chỗ của sáo trúc, đó mới là chỗ của thơ, thơ và sáo đã dìu nhau, làm đẹp cho nhau qua bước đường hạnh ngộ...

“Lên bờ, xuống ruộng” vì sáo

Mỗi độ xuân về, nghệ sĩ sáo Nguyên Đạt đã phải “chạy sô” không ngớt, đêm nay ở Sơn Hòa, đêm mai đã Sông Cầu, đêm mốt đã Đồng Xuân, rồi khép lại mùa thơ xuân bằng Nguyên tiêu Nhạn tháp. Những đêm thơ này không có cát-sê, đôi lúc chỉ vài chén rượu cảm tạ,...
Còn chuyện buồn nghề thổi sáo cho những đêm thơ, chuyện ứng xử “khó coi” của nhiều người đối với thơ-nhạc,... Nguyên Đạt xin tôi đừng nhắc, “âu cũng là cái nghiệp cầm ca...”, anh âm trầm. Nhiều lúc buồn, anh đã định đập sáo, nghỉ chơi nhưng rồi làm sao cưỡng lại nghiệp trời? Trò chuyện cùng tôi, anh nhắc nhiều đến người bạn cố tri Nguyễn Văn Phương (Phương xích lô) với những câu thơ tặng trước khi mất: “Nguyên tiêu tìm về núi Nhạn/Để như chim nhạn ngày xưa/Tháp Chàm hóa thành tổ cũ/Khói hương tỏa ấm hồn thơ”...
Và rồi ba thập niên thơ trên đỉnh núi Nhạn, có còn ai nhớ tiếng sáo của chàng “Trương Chi” Nguyên Đạt, người làm đẹp cho thơ, cho bạn bầu thi hữu, khách tri âm giữa đất Phú trời Yên lồng lộng gió sông Ba,...

Bài và ảnh: HOÀNG YẾN

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

DÒNG SÔNG KỶ NIỆM


Tôi trở về với bến nước Tam Giang
Bên dòng chảy thân thương chất chồng bao kỷ niệm
Sóng nước mênh mang giữa trời chiều xao xuyến
Khoan nhặt mái chèo đưa tiễn bóng hoàng hôn

Giọng hát ai ngân lay động tận đáy lòng
Gần gũi thân thương như chưa hề xa ngái
Thời gian đi không bao giờ trở lại
Nỗi nhớ cội nguồn nào phải dễ nguôi quên

Tình quê còn mãi vẹn nguyên
Như hồi thơ dại ở bên mẹ hiền

Sông có hờn chi không khi mình lỗi hẹn
Chẳng kịp về in lại dấu chân chim
Để bãi bờ xa mỏi mắt ngóng tìm
Cho thương nhớ thấm sâu từng nỗi nhớ

Con đường thân quen sao bước chân mình ngờ ngợ
Bản du ca buồn đã dày đặc nếp rêu phong
Tôi về tìm lại dòng sông
Uống bầu sữa mẹ-Tắm lòng bao dung


Nguyên Đạt

THÈM NGHE GIỌNG NÓI QUÊ MÌNH -Tùy bút


Hồi còn ở Việt Nam, nhân một lần cùng anh bạn đồng nghiệp vào Sài Gòn lo công chuyện. Sau khi hoàn tất, anh rủ tôi cùng đi thăm thú mấy người bạn đồng hương đang sinh sống và làm việc tại đây. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, cả bọn kéo nhau ra làng nướng miền Tây thưởng thức các món ăn đặc sản Nam Bộ gọi là để mừng ngày gặp gỡ...
Xa ngái lâu ngày, nay được dịp “tha hương ngộ cố tri” ai cũng háo hức muốn hỏi han trò chuyện để biết chuyện quê hương, làng nước, bạn bầu nên chỉ sau mấy tuần rượu “rô-đa”, mọi người đã bắt đầu hưng phấn nói cười rôm rả, có lúc mải mê đến độ giành nhau nói chẳng ai thèm nghe ai nhưng mọi người vẫn thấy sướng. Ngồi bên cạnh tôi ở bàn tiệc buổi ấy có một anh bạn ăn mặc khá sang trọng, khuy cài măng-sết miệng cứ ngậm tăm không dự vào câu chuyện, dáng bộ phấp phỏng đứng ngồi không yên, hình như trong bụng anh ta có gì đó không ổn, rồi... sau cùng, có lẽ chịu đựng hết nổi, anh bực bội huơ tay ra hiệu:
-“Suỵt” Các bạn nói nho nhỏ chút chứ?
-Ủa! Đây là quán nhậu, người đông, nói nhỏ làm sao nghe đặng? Vả lại, rượu vào thì lời ra, gì đâu phải áy náy?
Câu chuyện đang vui vẻ hào hứng đột nhiên bị tắt ngang khiến mọi người hụt hẫng.
-Nhưng... “Giời ạ!”. Anh bạn “măng sết” điệu bộ khổ sở khoát tay thì thầm: -Thì cũng phải để ý canh canh nhỏ giọng chút chứ! Cái tiếng Nẫu đặc sệt như mấy người mà cứ oang oang không sợ người ta cười cho à?
-Giọng Nẫu, giọng nẫu thì đã sao hả? Tiếng quê mình thế nào ta nói zdậy, mắc mớ gì mà sợ?
Tuy mạnh miệng vậy, nhưng kể từ lúc đó dường như mọi cười đều cụt hứng, chẳng ai còn thiết chuyện trò nữa. Cuộc vui đang rộ lập tức bị chững lại bởi một quãng lặng kéo dài...
... Ngồi chứng kiến cuộc tranh cãi từ đầu tới cuối, tự nhiên tôi bỗng cảm thấy chạnh lòng khi liên tưởng tới tình huống tương tự của mình trong một lần gặp gỡ, bù khú với đám bạn bầu thời trai trẻ khi về lại quê xưa:
-Nì!... Mi nói giọng chi mô mà lạ rứa? Tau nghe dị dị khó lọt tai lắm!
-Thì tiếng Huế rặt ròng chứ Tây u gì đâu?!
-Huế mô mà Huế!
Mấy đứa bạn nhíu mày hùa nhau “vặt” tôi:
-Không phải! Mi giả giọng! Mi bán Huế mất rồi! Tiếng nớ là tiếng Huế lai! Huế lai… -Rồi có đứa bày đặt ví von: -Một thằng Huế lai bằng mười hai thằng Huế thiệt mà lị! (Dĩ nhiên, rõ đây là một lời khen... ngược).
Những lời trách cứ không mấy nhẹ nhàng của đám bạn hữu quả có làm tôi bẽ bàng chốc lát nhưng không đến nỗi buồn lòng bởi tôi biết nhất thời họ không thể hiểu và thông cảm đó thôi. “Nhập gia thì phải tuỳ tục chứ!”. Nhớ buổi đầu tiên vào Phú Yên dạy học, tôi đem hết khả năng ra sức giảng bài, thấy học trò đứa nào cũng ngoác miệng chăm chú lắng nghe. Ngỡ sự truyền đạt của mình có hiệu quả, tôi càng khoái chí thao thao bất tuyệt, không ngờ khi hỏi lại: “Các em hiểu rõ chưa?” thì đứa này đưa mắt nhìn đứa kia vừa ngơ ngác vừa sợ sệt, rồi một đứa mạnh dạn đứng lên: -Dạ thưa thầy, thầy nói tiếng trọ trẹ gì ấy em nghe không rõ ạ!
Mấy người bạn thời Trung học ở quê có lẽ không để ý; hơn mấy chục năm ăn ở, tiếp xúc sinh hoạt chung đụng với bà con địa phương làm sao tôi không ít nhiều ảnh hưởng tới âm giọng, lời ăn tiếng nói cùng phong cách, lối sống của họ cơ chứ! Anh bạn Huế của tôi tuy có hơi khắt khe, hơi cực đoan trong nhận xét, nhưng nói cho cùng còn dễ thương hơn cái anh chàng khuy cài măng-sết sợ nói giọng Nẫu quê mình kia nhiều.
Bước chân lên nước Mỹ chưa được bao lâu mà đã cảm thấy nhớ thương quê nhà da diết. Mấy câu thơ của ai đó đã lãng quên nay bất chợt hiện về trong trí tưởng:
Khi ra đi ta mang cả hồn quê
Nơi đất khách bao đêm dài nhung nhớ
Để câu thơ trầm buồn như hơi thở
Mãi dọc dài theo năm tháng chia xa…
Hằng ngày, con cái đi làm hãng, về nhà ăn cơm, chuyện trò dăm câu ba chuyện rồi vội nhảy vào phòng nghỉ sớm, lấy sức mai làm việc tiếp; hai vợ chồng già suốt ngày quanh quẩn trong mấy bức tường tận lầu 3, nói với nhau hoài cũng hết chuyện. Ngôi nhà thuê lại nằm lọt thỏm giữa mấy gia đình người Mễ, mỗi lần ra cửa gặp, thấy họ lich sự lên tiếng “Hai! Hai”, tôi đoán ra là lời chào cũng vui vẻ đáp lại “hai” chứ nào đã kịp tra tự điễn để biết nghĩa sao đâu. Ôi! Thèm nghe sao một giọng nói quê nhà.
Đang cảm thấy bức bối và e sợ cái nguy cơ dẫn tới bệnh trầm cảm thì hôm chủ nhật rồi bỗng một anh bạn gọi điện mời cả gia đình đi dự cuộc họp mặt đồng hương mùa hè do hội Ái hữu tổ chức; và chính nhờ gặp lại mấy người bà quen, những đồng môn, đồng nghiệp và bạn bầu ngày cũ, thời còn mài đũng quần ở băng ghế trường Trung học mà tình cảm thăng hoa khiến cho mọi vấn vương hầu như tạm thời giải toả.
Gặp nhau chỗ đất khách quê người, dù lạ hay quen, thân tình hay sơ ngộ, ai cũng tay bắt mặt mừng, xoắn xuýt, tới tấp thăm hỏi, nào là chuyện nhà chuyện cửa, chuyện làng chuyện nước, ai còn, ai mất… thôi thì đủ thứ làm mình không kịp thở. Bãi bờ ký ức được dịp khơi gợi khiến lắm lúc có người chợt lặng buồn, len lén đưa tay… quệt mấy giọt nước mắt rỉ rả rơi rớt chơi vơi theo dòng tâm sự.
-Cám ơn chị. Chị vẫn còn đặc sệt giọng Phú Yên. –Một người bạn vừa thút thít, vừa nắm riết bàn tay bà xã bịn rịn trước giờ từ giã: -Lâu… lâu lắm rồi em mới nghe lại giọng “Nẫu” thân thương quê mình đấy chị ạ!
Những người Huế xa quê như chúng tôi có cái thông lệ mỗi lần gặp nhau là bày trò thi nói giọng Huế bằng thổ ngữ cho đỡ nhớ rồi sướt mướt đọc thơ TKN: Nếu được nghe em ru bằng giọng Huế- Chết cũng đành chẳng nuối tiếc chi mô…
Người xa quê dẫu bất cứ lý do gì đi nữa, bao giờ cũng luyến nhớ cội nguồn, quê hương bản quán, và nếu như bất chợt ta bắt gặp đâu đó ai nói tiếng xứ mình lập tức mừng rỡ và cảm thấy thân tình ngay. Giọng Nẫu cũng dịu dàng, cũng ngọt lịm như ai miễn là lời nói của ta gói ghém đầy tình cảm làng nước xóm giềng trong đó. Bài “Nẫu ca” Than thân trách phận đặc sệt chất giọng Phú Yên nổi tiếng khắp miền ai cũng thích, người xứ khác tập hoài mà đâu có hát hay và đúng giọng bằng những người bạn Nẫu. Ở nước Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng gặp một vài người Việt mình hoặc là vì thói quen, hoặc là do muốn “thể hiện”, khi trò chuyện với nhau thường nói rặt tiếng nước ngoài, thậm chí ở trong thang máy cũng dùng tiếng Anh đối thoại với con trẻ, điều đó cũng thật đáng buồn lòng bạn nhỉ?!
Tất cả chúng ta, ai cũng có một tình yêu đầu đời để ôm ấp, mọi người đều có một góc trời quê để nhớ, để thương; có thể đó là cây đa, bến nước ven sông. Có thể quê hương là con đò nhỏ đưa khách sang sông mỗi sớm mỗi chiều đã để lại vô vàn ký ức thật êm đềm những khi ta chui vào hoài niệm, nhưng khi nói tới hồn quê, ngoài những điều nhắc nhở trên, rõ ràng, tiếng nói với cái âm sắc, âm giọng rất riêng của mỗi miền quê xứ “Giọng làng tôi khôn thể nào lẫn được” khiến ta dễ dàng nhận ra là đồng hương. Ấy chẳng phải chính là hồn quê đó sao?

San Jose (Thung lũng hoa vàng) những ngày đầu xa xứ
05/9/2008 -Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

NGẢ RẼ MỘT DÒNG SÔNG -Truyện ngắn


Thúy đưa mắt thấp thỏm nhìn ra bên ngoài, bụng khấp khởi mừng thầm khi thấy bầu trời dần dần hửng sáng trở lại. Cuối cùng thì cơn mưa dai dẳng suốt buổi chiều cũng tạnh hẳn; nếu không có đống bao xi-măng vừa thu mua được trong ngày có lẽ nàng đã đội mưa đạp xe về từ lâu để kịp lo bữa cơm chiều cho con cái. Nghĩ cũng buồn cười và có vẻ gần như mâu thuẫn, mới hồi trưa đây thôi, nàng đã mừng rỡ vì thu mua được nhiều bao, vậy mà bây giờ nàng thấy đống bao ấy là gánh nặng khó có thể kham nổi suốt chặng đường về. Tội nghiệp lũ trẻ, đợi mẹ tới khuya chắc đói bụng lắm đây, nhà có phần bẩn chật khó nghèo nên bao nhiêu tiêu chuẩn đều dồn cả vào bữa ăn chính, lắm bận mắc việc về nhà muộn, nàng muốn la rầy lũ trẻ cứ khư khư ôm bụng đói chờ mình nhưng rồi thấy chúng mặt mày rạng rỡ tíu ta tíu tít dọn cơm, trong lòng tự nhiên dịu lại. Ôi! Những cử chỉ săn sóc dù nhỏ nhoi nhưng biểu hiện biết bao yêu thương trìu mến. Vả lại, tạo được nề nếp gia đình như thế cũng tốt thôi. Cứ mỗi bữa ăn, cả nhà lại quây quần đông đủ bên nhau, và nàng mỉm cười hạnh phúc với bầu không khí gia đình thuận hoà đầm ấm, quên đi bao nỗi truân chuyên của cuộc sống đời thường.
… Những sợi nắng cuối ngày đã tắt hẳn từ lâu. Xóm làng bắt đầu chìm khuất dần trong màn đêm thẫm đậm. Đạp xe dưới vòm tre dày dặc, Thúy gần như phải mò mẫm từng li, từng chút. Không khí mát dịu, nhưng lưng nàng thì ướt mượt mồ hôi. Một vài lọn tóc xổ ra dính bệt vào trán, nàng cũng chẳng buồn để ý. Đống bao xi-măng cột chặt sau pọc-ba-ga càng lúc càng nặng trĩu như có ai đó trì níu lại. Nàng chơi lại trò chơi từ thuở nhỏ: thầm đếm một, hai… cố giữ cho đôi chân rã rời theo kịp vòng quay chiếc xe đạp mi-ni. Mải cắm cúi đạp, khi ngửng đầu lên, nàng mừng rỡ quá đỗi vì ánh đèn thành phố hiện rõ trước tầm mắt. Chỉ còn một quãng ngắn nừa thôi là sẽ tới nhà… Nàng rướn người trên yên xe, vội vã băng qua ngả tư con giao lộ để vào thành; đột nhiên trước mắt nàng loá lên ánh sáng của ngọn đèn pha, cùng lúc với tiếng còi chói tai. Nàng giật mình, lạc tay lái, loạng quạng đâm sầm vào cột điện ở góc đường…
Hình như trước lúc ngất đi, trong mơ màng, nàng vẫn cố gọi hai tiếng: “Bình ơi! Bình ơ…ơi!...”

… Sau tháng tư năm bảy lăm, Thúy bị lạc mất chồng, rồi tiếp liền sáu bảy năm sau đó, do nằm trong diện giáo viên thuộc chế độ cũ được lưu dung, nàng bị thuyên chuyển về dạy học ở một ngôi trường thuộc vùng quê xa xôi hẻo lánh, thiếu hẳn phương tiện giao lưu nên càng bặt tin chồng hơn. Lần hồi theo thời gian, nàng gần như mất hết hy vọng gặp lại Bình, người chồng yêu thương ngày cũ. Khoảng thời gian này nhờ ở sổ gạo và số tem phiếu ăn theo do nhà nước cấp, mấy mẹ con cũng cố gắng tằn tiện đắp đổi qua ngày. Thế rồi nàng được thuyên chuyển về lại thành phố theo nguyện vọng. Lúc đó những khó khăn mới bắt đầu nảy sinh. Nhà cha mẹ chồng đã có cô Ba và chú Út dời về ở chung nên nàng phải xin nhà trường thu xếp cho một góc nhỏ phía sau nhà kho để ở tạm. Góc nhỏ ấy không đủ chỗ cho cả bốn mẹ con, nàng buộc lòng xin gởi đứa con trai nhỏ nhờ ông bà nội nuôi giùm. Chuyện ở như thế cũng tạm ổn, nhưng nào chỉ có chuyện ở, bởi các con nàng đang độ tuổi lớn, những nhu cầu về ăn mặc, sách vở… ngày càng bức thiết hơn. May mà chỗ ở khá gần ga xe lửa nên nàng bắt chước một số bà con lao động trong xóm sắm một đôi thùng, dăm ba cái thau nhỏ, gánh nước lên sân ga, chờ những chuyến tàu xuôi ngược Bắc-Nam đổi cho hành khách rửa ráy mặt mày tay chân kiếm ít tiền gọi là cải thiện thêm bữa ăn hằng ngày. Nhờ vậy, mấy đứa nhỏ khi ngồi vào mâm, mặt mày bớt nhăn nhó bởi nồi cơm quá nhiều chất độn.
Vào một ngày đẹp trời nào đó khoảng gần cuối năm, đứa con trai nhỏ được phép ông bà về chơi nhà, lần này không hiểu sao cứ nấn ná mãi tới chiều vẫn chưa chịu rời; gặp lúc chỉ còn hai mẹ con, nó chợt thủ thỉ:
-Mẹ ơi! Nội vừa nhận được thùng hàng lớn lắm. Có cả máy hát nữa mẹ ạ!
Nàng ngạc nhiên hỏi:
-Hàng của ai gởi vậy con?
-Dạ… Con không biết. -Thằng bé tiếp: -Khi người ta đưa hàng tới, ông nội, cô Ba và chú Út ngồi thì thầm bàn chuyện với nhau lâu lắm, lũ nhỏ tụi con thì nội đuổi ra ngoài chơi, không cho lại gần.
Câu chuyện đứa con trai vừa kể, tự nhiên khiến Thủy đâm ra bận tâm, thằng nhỏ đi từ lâu rồi mà nàng cứ ngồi thừ bên chậu rửa chén mải miết ngẩm ngợi “Từ ngày về làm dâu nhà này trước sau hơn chục năm, mình có thấy ai trong số anh em bà con nội ngoại ở nước ngoài đâu nhỉ?”. Nàng lan man suy nghĩ: “Hay là anh ấy? Anh Bình…!”. Nhưng rồi nàng ngờ ngợ “Nếu đúng là anh ấy sao lâu nay không thèm liên lạc thư từ gì với mẹ con mình? Lẽ nào?!... Tình nghĩa là thế, thân thương là thế cơ mà?!”. Bỗng dưng, trí tưởng đưa nàng về vùng trời kỷ niệm xưa cũ. Đã bao năm tháng qua rồi, nhưng nàng vẫn còn nhớ như in những ngày ấy.
… Thủy-Bình quen nhau từ hồi còn theo học ở các lớp bậc trung học đệ nhị cấp, khi đậu tú tài rồi mà cả hai có vẻ như vẫn… vô tư; nhiều lần cùng nhau rong chơi, khi thì chè bắp Cồn Hến, bánh khoái Đông Ba hoặc sóng đôi giung giăng bát phố mỗi chiều thứ bảy nhưng chưa một lần dám nắm tay nhau. Bên Thủy, Bình dường như luôn luôn sẽ chỉ là một anh chàng vệ sĩ nhút nhát hay cả thẹn của lòng nàng, nếu như... không có một lần, hai người bỗng dưng cao hứng rủ nhau vào rạp Li-Đô phía cuối đường Chi Lăng dưới cầu Gia Hội coi phim Rô-Mê-Ô – Ju-li-et. Chuyện tình buồn của hai người thuộc hai dòng tộc thù địch đã cuốn hút mọi người mải mê xem. Đến đoạn chàng Rô-Mê-Ô sững sờ, vật vã bên xác người yêu rồi rút gươm tự sát trong nhà mồ thì đâu đó có tiếng thổn thức, rồi lại có tiếng cười khẩy: -Đúng là đàn bà. Chỉ cái mau nước mắt! Nhưng chỉ một đỗi sau, chính người đàn ông ấy lại ôm mặt âm thầm nức nở. Không khí trong rạp như chùng cả lại. Nàng đã vùi mặt vào vai chàng rấm rức làm nhòe đi một phần lưng áo, mắt cả hai đều đẫm lệ. Chàng cảm động bảo nàng: -Em ơi! Bây giờ chúng mình hãy giao kết với nhau, mình sẽ chung thuỷ với nhau trọn đời, đừng bao giờ chia lìa em nhé!? -Và nàng đã thổn thức nguyện ý gật đầu. Chàng đã giao kết với nàng chân tình như thế trong bầu không khí thiêng liêng như thế, lẽ nào bây giờ lại quên hết rồi sao?!

… Sau buổi đó, một bận tới nhà cha mẹ chồng, nàng thấy không khí trong nhà có vẻ sao sao ấy. Ông bà chỉ gật đầu lấy lệ đáp lại lời chào của nàng rồi ngậm tăm. Cô Ba, chú Út thì kiếm cớ lãng đi đâu đó. Loanh quanh, luẩn quẩn một lúc chẳng biết làm gì, Thủy chán nản định về, bất chợt ánh mắt nàng bắt gặp cái cassette mới tinh chễm chệ nằm trên đầu tủ, trầm trồ: -Chà... Nội mới sắm được cái cát-sét đấy à! Thật mừng ba mẹ có cái để nghe cải lương cho đỡ buồn lúc tuổi già nhỉ! -Cả hai ông bà nhìn nhau, rồi quay sang nàng mỉm cười gượng gạo. Nàng sắp chào từ giã thì bố chồng đột nhiên lên tiếng:
-Thủy à!... Mấy bữa rày ba có chuyện muốn nói với con nhưng…
-Dạ, có gì đáng ngại đâu ba, dâu con trong nhà cả mà.
-Ba… Ba vừa nhận được thư của Bình.
-Trời ơi! Đúng y như… -Nàng kêu lên rồi vội vàng lấy tay bụm miệng, hai mắt mở lớn, háo hức chờ đợi…
-Nhưng… Nó thật đáng trách con à. Nó đã có vợ khác ở bên Mỹ rồi. Hơn mười mấy năm còn gì.
Nàng có nghe lầm không nhỉ? Chẳng lẽ sự thể lại xảy ra trần trụi thế sao hở trời! Nàng muốn hét lớn rồi khóc oà lên cho thoả cơn tủi cực nhưng cố nén, gượng trấn tỉnh hỏi: -Ba cho con địa chỉ của anh ấy đi. Con phải viết thư hỏi anh ấy cho ra lẽ. -Ông già trù trừ lo ngại: -Đây chỉ là địa chỉ tạm thời. Nó sắp dọn về Ca-Li rồi, để lần sau ba đưa con địa chỉ chính thức.
Sợ phải khóc trước mặt bố mẹ chồng, nàng lật đật xin phép ra về. Sau lưng nàng có tiếng thở dài thườn thượt đuổi theo. Ồ không. Hình như đó là tiếng thở phào nhẹ nhõm của một con người đã trút đi được gánh nặng đeo đẳng bấy lâu nay(?).
Những lần sau đó khi tới nhà cha mẹ chồng, nàng chỉ biết ngồi cô đơn trong sự ghẻ lạnh. Cô Ba, chú Út thi nhau đánh chó chửi mèo, cố tình làm cho nàng bức xúc, sớm bỏ ra về. Chẳng bao giờ nàng nhận được cái địa chỉ mà bố chồng đã từng ngọt ngon hứa hẹn. Đứa con trai nhỏ của nàng không được thường xuyên về thăm nhà như trước nữa, mỗi lần muốn thăm nó thật khó khăn. Chẳng đặng đừng, nàng phải đem thằng bé về hẳn nhà mình. Lập tức sau đó cả cô Ba, chú Út và ông nội xuất hiện: -Nó là cháu đích tôn của tao. -Ông nội nói: -Để đó tao nuôi. -Một trận xô xát, giành giựt xảy ra, phải nhờ bà con lối xóm nhảy vào can thiệp mẹ con nàng mới yên. Bị trận đòn đau nhưng bù lại, cả nhà được ở bên nhau đề huề sum hiệp. Đó cũng là nút dây ràng buộc cuối cùng tháo gỡ mối liên hệ giữa nàng với nhà chồng.
… Cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Những chuyến tàu Nam-Bắc từ lâu đã không còn ghé lại cái ga xép tỉnh lỵ nhỏ bé này nữa. Thủy xoay xở sang một vài công việc khác để bù trừ vào mớ thu nhập cỏn con vừa bị cắt đứt, thế nhưng chẳng đi tới đâu. Thực ra cũng có một vài “mánh” kiếm được tiền nhưng lương tâm nhà giáo không cho phép nàng làm. Rồi có người bày cho Thúy cách đi về các vùng quê tìm mua các bao bì xi-măng cũ thải ra từ những căn hộ của các hào trưởng, cán bộ vừa xây mới, cái nào nên thì giao cho công ty kiếm huê hồng, cái nào rách thì rọc ra làm bao bì nhỏ đem bán cho những cửa hàng khô ở chợ Lớn. Nhờ tận dụng được “nhân công” trong nhà nên số tiền kiếm được cũng tàm tạm. Cuộc sống gia đình nàng dần dà ổn định, có điều, do thường xuyên hít phải bụi xi măng nên thỉnh thoảng nàng bị ho sặc sụa, sức khoẻ có phần giảm sút. Một lần ho nhiều quá Thúy ôm ngực than thở “Không khéo mình nhiễm phải bệnh lao phổi thì khốn”! Cái dự cảm mơ hồ bất chợt thoáng qua đó khiến tâm trí nàng âm thầm lo lắng mãi.

… Có tiếng gõ cửa, nàng ngẩng đầu lên, bắt gặp cái nhìn của đứa cháu gái, con cô em chồng. Nó rụt rè đưa ra tờ giấy viết vội: -Thưa mợ, đây là địa chỉ của cậu Bình, cháu lén ghi lại trên chiếc phong bì ngoại bỏ quên ngoài bàn nước hồi sáng. Mợ phải gởi thư cho cậu, mợ ạ!
Đứa cháu sà xuống ôm vai Thúy nức nở:
-Mợ thông cảm cho cháu. Cả nhà đều như thế. Con… con…
Mợ cháu ôm chầm lấy nhau tràn đầy nước mắt. Bấy lâu ao ước có địa chỉ để viết thư cho chồng nhưng nay có rồi Thúy lại ngần ngại, lần lữa mãi chẳng viết được câu nào. Đứa con gái lớn nghe phong phanh đâu đó cứ bám lấy mẹ hỏi tin ba. Nàng cố tảng lờ cho qua chuyện bởi không muốn để vết thương đời hằn lên tâm hồn con quá sớm…
*
… Những âm thanh lao xao từ đâu đó gọi nàng tỉnh dậy. Đưa mắt nhìn quanh, Thúy nhận ra lũ con trẻ đủ đầy đang nhao nhác vây quanh mới cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Bên giường bệnh, chẳng biết từ hồi nào còn có một bà khách lạ hoắc khuôn mặt béo tốt đang ngồi chăm bẳm nhìn nàng với nụ cười hồn hậu khiến nàng ngạc nhiên ngó sững. Chừng như hiểu ý, bà ta mau mắn tự giới thiệu:
-À! Cô đã tỉnh lại rồi. May quá. Tôi là chủ chiếc xe du lịch thuê bao làm cho cô mắc nạn. Nói thiệt tình, tuy mấy chú cảnh sát giao thông xác nhận không có lỗi trong tai nạn của cô nhưng tôi vẫn không yên lòng bỏ đi trước khi cô khoẻ lại. Dẫu sao cũng tại tiếng còi và ánh đèn xe bất ngờ…
-Đống bao xi măng? -Ánh mắt nàng thầm thì dò hỏi. Đám con hiểu ý mẹ liền nhao nhao:
-Rồi mẹ ạ. Đem hết cả về nhà rồi.
Bà chủ thuê bao chiếc du lịch vốn là một Việt kiều mới về thăm quê, chả biết sao lại đâm ra thương mến mẹ con nàng lạ. Sau vài lần viếng thăm, biết được tình cảnh khó khăn của gia đình nàng hiện đang gặp phải. Bà nhớ tới đoạn đường khổ ải mình đã đi qua trước đây, càng cảm thấy chạnh lòng trăng trở. Trước khi rời khỏi Việt Nam, bà còn tới thăm Thúy lần nữa, và tặng nàng chiếc máy may để nhận hàng gia công về làm thêm bớt khổ. Bà còn bảo nàng đưa địa chỉ của Bình để khi qua lại bên đó, bà sẽ tìm cách liên lạc, nói hết sự tình cho chồng nàng rõ. Thúy cám ơn nhưng nói thêm: -Em xin chị một điều. Em sẽ không nhận gì cả nếu như anh ấy đã… đã sang thuyền…
Bà gật đầu đồng ý nhưng kín đáo lẩm bẩm:
-Có lẽ em sẽ trách chị thôi. Tuy nhiên, chị sẽ làm những gì đáng phải làm.

Ngày… tháng… năm…
Gởi em và các con.
Rất nhiều năm anh cố liên lạc tìm em. Đến khi có thư của gia đình cho biết em đã có chồng, rồi sau đó đem con đi đâu mất, anh rất đau khổ và thất vọng. Bây giờ biết được chính xác thì sự thể đã quá muộn màng. Anh đã có vợ khác. Anh có bàn với Huệ, cô ta cũng đồng ý bảo lãnh mấy đứa con của chúng mình qua bên này. Dù sao thì em cũng nên nghĩ đến tương lai của bọn trẻ. Phần em, anh sẽ liệu cách cung ứng đầy đủ để cho em làm lại cuộc đời. Mong em thông cảm. Xin đành lỗi hẹn cùng em! Bình.

Nhận đựơc thư chồng, nàng càng xót xa cay đắng. Chuyện gì đến rồi sẽ phải đến nhưng cái sự thực đang phơi bày trước mắt nàng sao mà quá tỡm lợm. Tình đời, tình người tha hoá đến mức này sao hở trời! Mớ tiền tài bằng đô-la đã giết mất lương tri của con người đến đỗi “người lớn” giành ăn với cả những đứa cháu “cưng” máu mủ ruột rà tuổi đời còn thơ dại. Tệ hơn, còn làm dang dở cuộc đời của một người vợ hết lòng chung thuỷ trung trinh. Trước đây, dẫu không hy vọng được sum họp với chồng, nàng cũng còn có đàn con để mà yêu thương an ủi vỗ về, nhưng sắp tới đây nàng sẽ mất hết, bởi đàn con trẻ cũng sắp sửa rời xa mình.
Sau bữa nhận được thư chồng, nàng đâm ra thẫn thờ thơ thẩn, nói trước quên sau. Suy nghĩ miên man, nàng thấy Bình nói cũng có lý, bởi nàng không thể giống như con chim đà điểu, cứ rúc đầu trốn mãi vào cát trước thực tại được. Dẫu đau đớn trong lòng, nàng quyết định nói rõ sự việc với đàn con để chúng tự quyết định. Không thế thì sau này biết chuyện, lỡ chúng oán hận, nàng sẽ đau khổ suốt đời.
Nàng vùi đầu khóc thầm trong bóng đêm ướt đẫm cả chiếc áo gối. Chiếc áo gối có thêu hình đôi chim Loan-Phượng mà nàng có ý định sẽ mãi mãi rời xa, bởi chúng nào còn có chút ý nghĩa gì đâu đối với nàng nữa.
Tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, nàng tập hợp lũ trẻ lại:
-Các con ơi! Mẹ vừa nhận được thư của ba.
Bọn trẻ sững sờ rồi tất cả nhao nhao:
-Ba nói nói gì hả mẹ? Ba có gửi tiền, gửi hàng về không mẹ?
Nàng chậm rãi bảo:
-Ba không gửi tiền, gửi hàng nhưng ba muốn bảo lãnh tất cả các con qua bên đó để chăm lo tương lai cho các con.
-Trời ơi! Sướng quá! -Bọn trẻ reo lên: -Vậy chừng nào mẹ con mình đi hả mẹ?
-Chỉ các con thôi. Còn mẹ thì… thì ở lại.
-Sao vậy mẹ? Mình đi gặp ba mà.
Nàng nghẹn ngào:
-Mẹ không thể đi được, vì ba… ba đã có vợ khác… Có vợ khác rồi các con à!
Không khí bỗng nhiên lặng ngắt, rồi bầy trẻ nhao nhác:
-Nhưng khi tụi con đi rồi, mẹ sẽ ra sao?
“Ừ… Khi bọn chúng đi hết cả rồi, mình sẽ ra sao đây nhỉ! Sẽ ra sao…?!?”. Không nén được nữa, Thúy ôm mặt khóc oà. Đứa lớn nhất, rồi tiếp tới hai đứa em kề đồng loạt nhào tới xoắn xuýt ôm chầm vai mẹ tức tửi: -Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Chỉ độc mình cậu Út bé bỏng nghe lỏm bỏm câu được câu mất, ngạc nhiên nhìn mọi người lẩm bẩm: -Nhận được thư Mỹ sao không cười mà lại khóc? Kỳ chưa?!”

Ngày… Tháng… Năm…
THƯ GỬI BA

Chúng con rất vui mừng vì lại được có ba như những ngày trước. Cám ơn ba đã quan tâm tới đường vật chất, tương lai và sự nghiệp của chúng con, nhưng chúng con quyết định ở lại. Ba ơi! Làm sao chúng con bỏ mẹ lại một mình vào lúc này? Mẹ sẽ thế nào khi không có chúng con bên cạnh trong những ngày sắp tới khi mà người đã mất đi hết tất cả hở ba?!
Xin ba thông cảm và hiểu cho chúng con. Thưa ba. Đời sống hiện tại và cả tương lai có thể sẽ còn lắm điều khó khăn thiếu hụt, nhưng ngọn lửa nhân ái của mẹ sẽ thắp sáng cho chúng con thấy vẻ đẹp của tình người và cuộc sống để hướng về phía trước …
Con của ba
Hiếu Hiền-Hiếu Nghĩa-Chí Tín-Chí Trung

Nguyên Đạt