Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

CHÚ VỊT BẦU - Truyện Thiếu Nhi


Nấu xong nồi cháo trắng, bé Mai múc ra một tô đầy bưng lên nhà, bước tới chiếc chõng tre cầm tấm mùng vàng ố, lổ chổ đầy vết dán nhậm cẩn thận cuốn lên rồi khẽ khàng gọi mẹ:
-Mẹ. Mẹ ráng dậy ăn bát cháo nóng đi mẹ.
Nghe tiếng con, bà Tư nặng nhọc trở mình, giương đôi mắt lờ đờ hỏi:
-Ủa. Sáng rồi hả con?
-Dạ. Đã sáng rồi ạ!
Bé đỡ mẹ ngồi dậy, dùng chiếc khăn tẩm nước ấm lau mặt cho bà rồi dịu dàng hỏi:
-Có thấy đỡ hơn chút nào không hở mẹ?
-Ừ... Khá. Khá hơn nhiều rồi con ạ. Bà đưa mắt buồn buồn nhìn Mai thương cảm: "Tội nghiệp con tôi, mới bây lớn mà đã...".
-Không có gì đâu đâu mẹ. Mai nói vội cho mẹ yên lòng: -Con tự mình lo liệu được mà.
Nhìn thân hình gầy guộc của mẹ, Mai muốn ứa nước mắt, bé biết mẹ nói thoái đi như vậy cho mình khỏi lo lắng đấy thôi, chứ căn bệnh cứ dai dẳng mãi thế này không có thuốc men chửa chạy thì làm sao khỏi được. Đợi mẹ ăn cháo xong, bé thu dọn bát dĩa đem bỏ vào chậu rửa sạch rồi úp lên cái thạp gỗ gọn gàng đâu đó.
Thấy mẹ lại đã nằm xuống, Mai bước ra sân, nhìn trước, nhìn sau rồi len lén bước về phía cuối vườn. Khi đến trước chiếc chuồng, bé phân vân một đỗi, cuối cùng quả quyết nhấc cánh cửa lên, lập tức từ bên trong, một chú vịt múp míp lạch bạch chạy ra, ngoan ngoãn nhảy lên nằm gọn trên tay cô chủ; chú dịu dàng dùng cái mỏ bèn bẹt rúc rỉa lên mình cô một cách thích thú, nhưng chú nào thấy được cô đang nhìn nó với ánh mắt ươn ướt, chan chứa tủi buồn: -Vịt ơi! Tao đành chia tay mày thôi. Bỏ lỗi cho tao nhé! Bởi vì... Cô bé thút thít lẩm bẩm: -Bởi mẹ tao đang bệnh nặng... Mẹ cần... cần tiền chửa bệnh mày à.
*
... Từ ngày cha bị chết trong một tai nạn lao động, gia đình bé vốn đã khó nghèo, lại càng lâm vào cảnh nghèo khó hơn. Để bớt tiền chi tiêu và dễ kiếm cái ăn, cái mặc, hai mẹ con phải kéo nhau ra ven rìa thị xã, lủi thủi sống với nhau. Ở cái xóm xa hẻo lánh như thế này thật là ít bạn, nếu không có chú vịt bầu bên cạnh thì bé cũng chả có mấy ai để chuyện trò đùa giỡn, vui chơi.
Chú vịt được sinh ra trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: Hôm ấy, mẹ như thường lệ lấy trứng lộn ra hấp bán, đang săm soi, chọn lựa, bỗng bà dừng tay, cầm một cái trứng đưa lên tai nghe ngóng rồi rối rít gọi bé: -Này... Con nghe xem. Hình như...
-Có tiếng... chim chíp mẹ ạ! Mai thầm thì trả lời: -Hay là...
-Đúng rồi. Chú vịt trong cái trứng này có lẽ nay mai sẽ nở thôi. Mình không nên giết nó tội nghiệp.
Thế là ngay sáng hôm sau, chú vịt con đạp vỏ lùi lũi chui ra. Chú trông thật ngộ với một túm lông chễm chệ nằm trên chỏm đầu giống như cái mào cùng với chiếc cổ điểm mấy khoang vàng trắng. Và cái mỏ, ôi cái mỏ xinh xinh lúc nào cũng ngọ ngọ, nguậy nguậy trông thật... ghét ghê!
Buổi chiều, bé đôn đáo chạy lên tận xóm trên, năn nỉ thằng Long hết nước miếng mới được hắn đồng ý "bun" cho chiếc lồng cũ mang về, bỏ chú vịt vào, treo lên cây mận. Vậy là thoả mãn rồi nhé. Bao lâu nay bé cứ ước ao có được con chim như các bạn cùng lớp để nuôi cho vui, nay đã có chú vịt xinh xắn, dẫu sao cũng phần nào đáp ứng được nguyện vọng của mình. Bé thầm cám ơn biết bao về món quà bất ngờ của mẹ. Từ đó, nếu gặp lúc bận giúp mẹ làm việc nhà hay lo chuyện học hành thì thôi, mỗi khi rảnh rỗi là bé sà vào chăm sóc chú vịt. Chỉ vừa mới hạ chiếc lồng xuống đất, mở nắp he hé là chú ta đã nhảy xổng ra, lúc thúc chạy theo quẩn chân cô bé, rối rít hết đớp lại mổ những anh ruồi ngã lăn quay dưới chiếc chổi quét nhà được cô chủ sử dụng một cách điệu nghệ. Cứ thế, người và vịt vui đùa, quẩn quanh bên nhau ngày càng thân thiết. Chú ăn nhiều, chóng lớn, chẳng bao lâu chiếc lồng không đủ sức chứa cái thân thể cồ cạp của chú nữa; mẹ phải bỏ ra một "ngày công lao động" giúp Mai lợp cái chòi bằng lá dừa cho chú dùng làm nơi cư ngụ. Vậy là từ nay mỗi tối cô phải cáng đáng thêm phần việc tắm rửa, trải rơm sạch sẽ cho chú vịt trước khi đi ngủ. Bây giờ chú đã trổ mã, lông cánh dài ngoằng, tiếng kêu ồ ề quàm quạp chứ không còn thanh thanh như trước; bù lại, chú biết cách thể hiện tình cảm của mình đối với cô chủ đằm thắm, mặn mòi hơn. Ôi! Vậy mà...
*
-Mai ơi! Cháu ẵm vịt bầu đi mô rứa?
Đang buồn rầu lầm lũi bước, nghe tiếng hỏi cấp tập bên tai, Mai bất giác giật mình, dừng lại, ngước lên thấy bác Ba đang đứng nhìn chăm chăm, vội cúi gầm mặt xuống, lí nhí trả lời:
-Dạ... Cháu mang ra chợ... Dạ. Mẹ cháu...
-Tội nghiệp! Thế mẹ cháu lại trở bệnh nữa hả?
-Dạ...
Bác Ba nhìn Mai thương cảm rồi loay hoay lục túi:
-Thôi. Để bác mua cho. Xem nào... Bác nhắm nhía rồi nắm hai chân vịt nhấc lên, hạ xuống thử được bao nhiêu cân: -Chà. Chú vịt này trông béo ra phết, đem đánh một đĩa tiết canh nhậu ngon phải biết.
Đang đưa tay chuẩn bị nhận tiền, nghe bác Ba nói vậy cô bé giật mình hốt hoảng, vội rụt tay lại, nhưng rồi... cuối cùng cô cũng đành miễn cưỡng trao vịt cho bác, thút thít cám ơn và lủi thủi ra về.
... Mỗi mùa xuân sang, mẹ tôi già thêm một tuổi. Mỗi mùa xuân sang, ngày tôi xa mẹ càng gần... Chả biết là do nhớ thương chú vịt hay lời bài hát nỉ non vẳng lên từ chiếc máy cát-xét nhà ai lọt đến bên tai mà bé cảm thấy lo lắng tủi phận muốn ứa nước mắt... Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi... Mồ côi... Tội lắm ai ơi... Đến đây, bé bịt chặt hai tai chẳng dám nghe tiếp, xoay người úp mặt xuống giường rấm rứt làm ướt đẫm cả chiếc áo gối của mình. Bé âm thầm thăn thỉ với bóng đêm: Mẹ ơi! Mẹ chớ xa con. Con cần có mẹ. Con cần mẹ lắm. Mẹ ơi!
... Ánh nắng ban mai xuyên qua những lỗ hổng trên mái nhà bò lên mặt nóng rát làm bé giật mình thức giấc. Nhìn qua giường mẹ, thấy gối mền được xếp ngay ngắn đâu vào đó, bé mừng thầm trong bụng, biết bà đã khỏi bệnh. Dưới bầu trời loang nắng trước sân nhà, mấy chú chim sẻ đang lích chích tìm kiếm mấy hạt thóc rơi trong đám cỏ non đẫm ướt hơi sương. "Thì ra trời đã sáng bửng từ lâu". Bé lẩm bẩm rồi nhỏm dậy, lật đật bước ra chậu múc nước rửa ráy mặt mũi qua loa; theo thói quen, cô tất tả bước về cuối vườn, nhưng tới nửa đường mới sực nhớ ra liền đứng sựng lại. Niềm vui chan với nỗi buồn làm cho bé gần như mất phương hướng. Nhớ đến người bạn thân thiết của mình, nỗi niềm thương cảm trào dâng, cô bất giác kêu lên: "Vịt ơi! Mày đã giúp tao làm được một việc có ích. Cám ơn mày nhiều lắm. Đừng buồn... Đừng buồn... Vịt nhé"!
Không muốn bước tiếp, bé lững thững đi trở lại vào nhà, định giúp mẹ làm những công việc lặt vặt cho khuây khoả... Bất đồ có tiếng quàm quạp quen thuộc ồn ĩ nổi lên, rồi... một chú vịt bầu múp míp từ đâu nôn nóng sải cánh ào tới.
Bé ngơ ngác đứng im như trời trồng, chẳng hiểu ra làm sao nữa...
Ngước mắt lên, Mai thấy mẹ với khuôn mặt rạng rỡ hơn bao giờ hết đang đứng nhìn mình âu yếm mỉm cười. Con Cún nằm sưởi nắng trước hiên nhà đột nhiên nhỏm dậy sủa rộ lên, đuôi vẫy lia lịa; phía xa xa ngoài kia có bóng ai như bóng thằng Long con bác Ba thấp thoáng ẩn hiện, rồi lẩn khuất phía bên kia hàng dậu.
Chừng như giận dỗi trước sự lạnh nhạt của cô chủ nhỏ, chú vịt bầu ra sức mổ vào bọng chân cô một cú đau điếng…




Tháng 7/2006




Nguyên Đạt

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI - Nguyên Đạt


SƯ PHẠM QUI NHƠN

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình tóc điểm hơi sương
Niềm vui vẫn còn tươi rói
Như thời Sư phạm Qui Nhơn

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình tuổi chớm vào đông
Niềm Tin vẫn ngời lẽ sống
Lung linh bảy sắc cầu vồng

Có khoảng trời riêng để nhớ
Đời mình ý nghĩa biết bao
Không gian là màu xanh thắm
Bình minh lên tiếng vẫy chào

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình trở lại trường xưa
Đêm nghe dòng đời thao thức
Xôn xao khúc hát giao mùa

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

DÒNG SÔNG THƠ TRẺ - Nguyên Đạt




Quãng đời ấu thơ và tuổi lớn của tôi đã trải qua ở một làng chài nằm dọc theo bờ phá Tam Giang. Đó là một ngôi làng nhỏ, rất nhỏ, nếu đi bộ từ đầu làng tới cuối làng cũng chưa đầy mươi phút. Nguyên thủy nó gồm có hai ấp: An Cư và An Lạc, sau gộp chung lại thành một cái lên làng: Cư Lạc.
“An cư, lạc nghiệp” là ước muốn muôn đời của tất thảy mọi người nói chung, riêng đối với làng tôi thì đó lại là một ước muốn thiết thân, bởi lẽ hầu hết nơi đây toàn là dân ngụ cư từ nhiều phương rất xa tụ đến. Ngay như dòng họ nhà tôi gốc gác cũng đâu tận vùng đất đỏ ngoài Quảng Trị du cư vào khoảng mấy chục năm nay. Cũng vì sinh sau đẻ muộn, lại gặp thời buổi loạn ly nên làng tôi là làng duy nhất trong toàn xã chưa được nhà Vua công nhận sắc phong.
Cha mẹ tôi phần lớn thời gian theo nước sông hồ đi khắp nơi bán buôn ở những phiên chợ định kỳ nên tôi được ông bà nội lãnh phần nuôi dạy. Cứ thế, tôi lớn dần lên với năm tháng bên cạnh bàn tay chăm sóc từ ái của hai ông bà. Thông qua nội, những tên đất, tên người, tên làng, tên nước, tôi đã thuộc nằm lòng trước khi làm quen với bài học đầu tiên để biết đọc, biết viết những cái tên đó trong các tập sách Sử ký hoặc Địa dư...



Trong ký ức tôi, tới bây giờ vẫn còn đọng lại đậm nét những câu ca dao thấm hoài nỗi nhớ:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Yêu em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang…
Khi đọc tới đây, bỗng nhiên nội bảo tôi dừng lại, rồi hỏi:
-Này! Cháu của ông có biết phá Tam Giang nằm ở mô không?
-Dạ... Thưa ông. Chắc là xa lắm hí?
-Không xa mô cháu ạ. Đó là cái Rào mà cháu và bạn bè thường hay tắm táp, nô đùa trững giỡn ấy mà.
-"Ô! Té ra..." Tôi reo lên ngạc nhiên, bấy giờ mới biết cái Rào còn có một tên gọi khác. Nhưng rồi thắc mắc: "Ông à! Cháu thấy cái Rào cạn xợt, có nguy hiểm chi mô mà người ta sợ dữ rứa"?
-"Ngày trước nó khác lắm cháu à". Ông nội nói: "Hồi đó thường có những con thuồng luồng quậy phá, đánh chìm ghe thuyền cướp đi sinh mạng, tài sản của rất nhiều người và..."
Vậy là tôi được ông kể cho nghe câu chuyện cổ tích về cuộc chiến đấu gian khổ của ông bà tổ tiên để diệt trừ cái mầm họa chung; nhờ thế, con cháu sau này mới được an tâm đánh bắt cá tôm, không còn e ngại gió to sóng cả nữa.
Kho tàng cổ tích của nội nhiều vô kể, cứ như ông để sẵn đâu đó trong túi, gặp lúc cần là lấy ra ngay. Từ những câu chuyện cổ tích đó, ông thường liên hệ với thực tại, dạy cho tôi biết cần phải ăn ở thế nào cho phải đạo làm người. Đó là con người sống ở đời phải có nhân, có nghĩa, có lễ, có tín…v v…
Một lần, gặp lúc thấy ông đang vui, tôi thủ thỉ hỏi:
-Nội ơi! Nội kiếm mô ra lắm chuyện cổ tích rứa?
Ông chăm chú nhìn tôi một đỗi, hiền từ mỉm cười có phần đắc ý rồi lập tức kéo tôi trèo lên căn gác lửng mà lâu nay chỉ mình ông độc chiếm, lui cui lấy ở tủ ra những tập sách dày cộm, lật từng trang, chỉ vào đó và bảo:
-Ở cả trong ni nì. Cháu muốn biết không?
-Nhưng... Cháu... Cháu đâu biết đọc được như ông?
Tôi phụng phịu nói, và nội từ tốn giải thích:
-Muốn biết đọc phải học chữ. Khi biết chữ rồi thì cháu tha hồ mà tìm hiểu, sẽ biết vô khối chuyện đấy. Nào. Bây giờ ông cháu mình cùng học nhé!
Tôi bắt đầu làm quen với mẫu tự A, B, C như thế đấy. Hồi đó, trường Huyện quá xa, nội được tiếng có chút chữ nghĩa trong làng nên bà con nhân đó gởi con cháu tới nhờ ông dạy bảo luôn. Tôi nhớ, vốn liếng của nội độc chỉ có quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư để dạy lũ trẻ tập đọc-tập chép, còn làm toán và tập viết thì ông cứ tùy nghi phóng bút vào vở học trò; vậy mà khi đủ tuổi nhập vào lớp Ba trường huyện, cả bọn học hành cũng giỏi dang chẳng kém cạnh chi ai.
Nội vốn rất mê truyện Tàu, ông thường kè kè một quyển sách bên mình, hễ có dịp rổi rãi là cắm cúi mở ra đọc, nhằm đến hồi cao hứng, ông vuốt râu, dững mày đi một đường “Hành Vân Tẫu Mã” gọn bân, mặc cho lũ đệ tử đang chúi mũi chúi lái ê a học bài ngưng cả lại, há hốc mồm nhìn ông kinh ngạc.
Vào một buổi trưa hè, nội đang nằm lơ mơ trên tấm phản gỗ, bỗng như chợt nhớ ra chuyện gì liền nhỏm dậy, bước tới chỗ chiếc tráp kê ở đầu giường phía sau buồng ngủ lục lọi hồi lâu rồi lôi ra một chiếc kèn loe bóng loáng; sau đó, từ tốn quay trở lại, leo lên phản, hai chân xấp bàn, sửa soạn lệ bộ, khi tư thế đã hoàn toàn thẳng thớm mới trịnh trọng đưa chiếc kèn lên miệng thổi; tức thì một tràng âm thanh thê thiết trổi lên, khi thì dịu dàng uyển chuyển, có lúc lại bi tráng trầm hùng như có một đạo quân đang rầm rập phi mình trên lưng ngựa ầm ào chiến đấu khiến tôi sửng người, đứng như trời trồng, mê mẩn lắng nghe chẳng rời nửa bước. Hỗng biết tự bao giờ, bà con chòm xóm kéo tới lớp trong lớp ngoài say mê theo dõi. Cao hứng, ông thổi luôn một mạch tới bốn năm bài mới nghỉ.
Sự phát hiện này làm tôi nổi lên một đam mê bức thiết; vậy là suốt ngày hôm sau cứ lẽo đẽo theo sát đít nội, nằn nì ông dạy cho mình thổi kèn. Sau một lúc trầm ngâm suy nghĩ, ông thủng thỉnh đứng dậy bước ra vườn cắt một ống đu đủ, múc tô nước thật đầy để ngay trước mặt tôi, bảo:
-Muốn sử dụng chiếc kèn loe này để thổi cho tròn một bài nhạc thì cháu phải biết lấy hơi vòng từ mũi xống miệng suốt từ đầu tới cuối không được ngắt khúc giữa chừng. Bây giờ cháu hãy quan sát ông nhé!
Nói xong, ông từ từ đút ống đu đủ vào tô nước rồi phùng mang thổi. Lạ thay, hơn phút rưỡi trôi qua mà bọt nước trong tô vẫn liên tục sủi lên đều đặn không ngưng nghỉ.
Đưa ống đu đủ cho tôi, ông nghiêm nghị nhìn và bảo:
-Cháu hãy bắt đầu đi, khi nào được như ông thì mới thực hành trên chiếc kèn loe này được.
Suốt một tuần khổ nhọc vật lộn với ống đu đủ cùng tô nước vẫn không sao làm được như nội, tôi thất vọng quá chừng.
Thấy cháu buồn, ông dịu dàng an ủi:
-Không phải bất cứ điều gì mình muốn làm là được ngay đâu. “Có công mài sắt, có ngày nên kim” cháu ạ. Thôi, để đó rồi hạ hồi phân giải, bây giờ ông cháu mình chơi món khác đi.
Chiều hôm sau, ông cho tôi thay đồ mới rồi cả hai dẫn nhau lội bộ cả chục cây số lên tận xã trên, tìm nhà người quen, kiếm cho được cây trúc già vàng ngàu rỗng ruột, đem về, phơi nắng mấy ngày vừa đủ khô. Thêm một buổi lấy que sắt nung nóng dùi lỗ và chuốt gọt, đánh bóng nữa là hai ông cháu có trên tay mỗi người một ống sáo bóng rạnh.
Dưới ánh trăng thượng tuần còn mờ nhạt chưa đủ soi rõ mặt người vào tối mùa hè oi ả đêm ấy… Nội và tôi trải chiếu giữa chiếc sân đất trước nhà say mê luyện tập bài sáo đầu tiên:
“U liêu xề cống liêu”. Ông xướng lên và tôi đọc theo: U xang u, liêu cống liêu xề. Cống liêu cống, xê xàng xự xàng xê...
Quá nửa đêm một chút thì tôi đã hoàn thành xong bài sáo nhập môn "Kim tiền-Lưu thủy".
Từ đấy, tôi quên phéng luôn chiếc kèn loe với tô nước đầy, sôi tràn bọt sóng.
… Năm tháng đi qua, dòng đời đẩy đưa làm cho tôi mỗi lúc càng xa ngái làng quê có người ông yêu dấu. Tôi đã trải qua không biết bao thăng trầm chìm nổi, nếm đủ cả đắng cay lẫn cả ngọt bùi; nhưng những năm tháng đáng nhớ nhất trong đời tôi vẫn là những tháng ngày êm ả bên người ông yêu dấu. Tôi đã từng làm người thổi sáo rong, đi bán sáo dạo, nay ở đầu đường, mai ở cuối chợ, chủ nhật thì với một túi sáo đầy lưng, đem tiếng sáo mua vui kiếm tiền độ nhật. Rồi một ngày, tôi chợt nhớ ra cái nguyên tắc mà nội đã truyền thụ hồi xưa khi làm ống sáo ban đầu. Tôi mày mò nghiên cứu, chế ra đủ các loại sáo ngang, sáo dọc, ống địch, ống thiều… Bây giờ tôi đã có một cơ ngơi nho nhỏ bán đầy đủ các loại nhạc cụ dân tộc do công xưởng tại gia làm ra.
“Cháu ơi! Đừng bao giờ nản lòng. Cháu phải biết ước mơ, và điều quan trọng là cháu phải có quyết tâm thực hiện ước mơ đó”.
Tôi đã làm theo lời khuyên của nội và đã có chút thành đạt trong cuộc sống. Đó cũng là nhờ may mắn được bảo bọc trong chiếc nôi đầu đời có vòng tay bao dung chăm chút của nội, quyện hòa với những huyền thoại bên dòng sông thơ trẻ…

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

ÔI TIẾNG HUẾ CỦA TÔI - Phan Cư K5




Tôi xa quê hơn 40 năm. Sống ở nơi đất khách quê người, tiếp xúc đủ hạng người, đủ thứ tiếng nói nhưng tôi vẫn giữ giọng Huế rặt của mình. Mỗi lần về thăm quê, tôi rất thích đi chợ Đông Ba, không phải để shopping mà để nghe giọng Huế. Đi vào chợ là tràn ngập những âm thanh quen thuộc; trên đầu, dưới chân, bên phải, bên trái đâu đâu tôi cũng nghe những tiếng nói yêu thương, tiếng nói “ấm trầm mà sâu lắng lạ”.
Cũng vì giọng Huế “rặt” không pha trộn mà tôi hay bị bạn bè chọc là “nói chi mà trọ trẹ rứa” hoặc “Sao nói chi mà nghe đặc sệt mùi mắm ruốc vậy”. Nhiều khi vui nhậu cùng thân hữu, tôi nghêu ngao sửa lời bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng Huế tôi, từ khi mới ra đời…”
Cũng vì mỗi tỉnh, mỗi miền đều có tiếng nói riêng mà nhiều khi người ta choảng nhau cũng bởi nhại giọng, “chửi cha không bằng pha tiếng” là vậy.
Do sự biến âm hoặc phát âm mà đôi khi tiếng Huế mang lại cho người ngoại tỉnh nhiều nhận xét thú vị.
Phải nói Huế là đất thần kinh, đất của học hành thi cử nên từ xa xưa người Huế đã rất yêu thích đọc thơ, làm thơ, do vậy giọng nói nhiều khi cũng du dương trầm bổng như ngâm thơ vậy. Một người bạn tôi ở trong Nam, nhân một lần ra công tác ở Huế đã chứng kiến và kể lại cuộc đối đáp của một bà già bán quán tạp hóa và một bé gái khoảng chín, mười tuổi:
-Mụ bán cho tui chai nước mắm.
Giọng nói lên bổng xuống trầm (có nhạc điệu) của em bé khiến bà chủ quán phì cười “mắng yêu”:
-Tổ cha mày, rứa cũng làm thơ.
Anh bạn này cho rằng bà già bán quán nói cũng hay như đọc thơ vậy.
Cũng có lẽ vì cái giọng thơ, cái giọng ngọt ngào, trầm ấm đó mà ngày xưa mấy anh học trò xứ Quảng ra thi đã liêu xiêu đôi chân khi gặp người con gái Huế:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời
Thế nhưng tiếng Huế đôi khi cũng tạo ra cho người xứ khác những hiểu lầm dẫn đến những trận cười vui vẻ.
Chẳng hạn, người Huế khi phát âm những tiếng có dấu hỏi (?) hay dấu sắc (‘) thì người khác tỉnh thường nghe ra là dấu nặng (.). Xin được kể lại mấy câu chuyện sau đây:
Chuyện thứ nhất:
Có một anh người Huế làm Phường trưởng ở huyện Hòa Vang gì đó thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Một hôm họp liên tịch ở phường, thành viên dự họp hầu hết là người Quảng, người Nam hay Bắc. Như thường lệ, anh Phường trưởng đứng dậy điểm danh. Anh hỏi:
-Bên chị em phụ nữ đủ chưa?
Cả hội trường, mọi người cười cái rần. Anh chủ tịch ngẩn người, không hiểu gì cả nhưng vẫn tiếp tục điểm danh:
-Nông dân đủ chưa?
Bây giờ thì mọi người tham dự òa lên cười ngặt nghẽo. Lần này anh chủ tịch lại càng ngơ ngác nhìn mọi người rồi cũng ngỏn ngoẻn cười theo.
Khi tan họp, anh hỏi nhỏ một bác người Quảng trong hội nông dân:
-Răng hồi nảy tôi điểm danh, mọi người lại cười dữ rứa?
Bác nông dân vỗ lưng anh chủ tịch, cười khà khà:
-Eng nói lọa rứa. Đủ chưa thì nói đủ chưa, cứ đ. chưa, đ. chưa, ai mòa không cười.
Chuyện thứ hai:
Một anh thanh niên Saigon vào hớt tóc ở một tiệm hớt tóc thanh nữ. Cô chủ tiệm là người Huế, sau khi mời anh ngồi vào ghế, lấy khăn quàng qua người xong, lên tiếng hỏi khách:
-Anh cắt dài hay cắt ngắn? (Xin lỗi! Hiểu sao thì hiểu. Không dám diễn nôm)!
Anh chàng Saigon nghe vậy thốt nhiên hốt hoảng đứng bật dậy, cuốn gói bỏ đi một mạch, mặc cho cô thợ hớt tóc đứng ngẩn tò te nhìn theo tiếc rẻ.
Chuyện thứ ba:
Một anh người Huế vào Saigon thăm người con đang học đại học. Đang loay hoay tìm đường thì gặp một người cảnh sát giao thông đi tới. Anh mừng rỡ hỏi:
-Đường ni là đường mô ri eng?
Anh cảnh sát sửng người suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Đường này không phải là đường Mô-ri-en mà là đường Nguyễn Huệ.
Anh người Huế nghe ra, thẩm ý thẩm tình lỏn lẻn cười, tiếp tục đi tìm người chỉ đường khác…
Tôi có một thằng bạn người cùng làng, nhỏ học trường Huyện, lớn lên rủ nhau thi vào Sư Phạm Qui Nhơn. Ông nội hắn vốn là một người thông nho lại còn biết cả chữ quốc ngữ, đặt tên cho người anh là Lễ, hắn là Nhạc. Cũng do tiếng Huế chữ nhờ (Nh) thường kêu bằng âm dờ (D) nên khi đi làm giấy khai sinh đáng lẽ viết Nguyễn Nhạc thì ông Lục sự lại phóng bút ra Nguyễn Dạc (trong tự điễn chữ dạc chỉ là tiếng đệm chứ không có nghĩa gì hết). Vậy là từ đó hắn phải mang cái tên bất như ý suốt đời. Ra trường vào dạy học ở Phú Yên, người bản địa thường đọc chữ vờ (V) thành chữ dờ (D); nên cứ ngỡ là tên Vạc, mỗi lần tiếp xúc, phụ huynh học sinh sợ gọi tên Dạc e không đúng, có lỗi, bèn một điều thưa thầy Vạc, hai điều thưa thầy Vạc khiến thầy dở khóc dở cười chả biết đường nào mà đính chính!
Tiếng Huế của tôi là vậy đó; khi dịu dàng, khi trầm ấm, khi mượt mà như thơ mà đôi khi cũng tạo cho người nghe khác tỉnh những cảm nhận thích thú và trào lộng, một sự trào lộng rất dễ thương
Ôi tiếng Huế của tôi!
Dalat 27.8.2010
Cuphandalat


TIẾNG HUẾ

Đi đâu thi` nói "đi mô"
"O nớ" ám chỉ "Cái Cô" chung trường
"Ốt dột" khi tui nói thương
Có nghĩa "mắc cỡ" má vương nụ hồng.

"Khôn" là đồng nghĩa với không
Chẳng muốn lấy chồng, "khôn muốn lấy dôn"
"Đoản hậu" là "Ác" en ni
Tui đã ... im lặng cứ đi theo hoài

Nhà tui còn khoảng đường dài
Có chi noái nấy, ngày mai hết rồi
Trên cao thì nói "trên côi"
"Đi rượng" là lúc sóng đôi như chừ

"Phủ phê" là lúc thặng dư
Như là tình cảm "đã nư", no đầy
"Như ri" có nghĩa như vầy
... Mô Tê Răng Rứa, em quây ... mòng mòng

Tác giả: Cai Vĩnh
Có bản quyền đăng kí - Không "đạo văn"


GIÚP VỢ - Thơ vui Trí Nhân



Tí, Sửu, Dần, Mão ra đây

Để làm công việc hằng ngày cho ta

Hôm nay mồng 8 tháng 3

Mẹ mày được phép ở nhà nghỉ ngơi

Thằng Tí bế em đi chơi

Con Sửu lo chạy Chợ Trời nghe con

Thằng Dần lo việc nấu cơm

Con Mão giặt giủ, phơi rơm, quét nhà

Hôm nay quốc tế đàn bà

Mẹ mày được phép ở nhà nghỉ ngơi

Còn bố thì đã bận rồi

Trưa nay bè bạn đã mời lai rai


Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

KHÓC CƯỜI VỚI NGƯỜI THƯƠNG VAY - Ng. Đạt



Tản mạn với Nguyễn Hữu Ninh
Người viết lời Nẫu ca

Từ lâu tôi đã muốn viết đôi điều về anh bạn Nguyễn Hữu Ninh, người sáng tác phần lời “Nẫu ca” Trách phận, một bài hát không những được người Phú Yên mà còn nhiều bà con vùng miền khác rất thích nghe và hát nhưng quả là khó, bởi Ninh là một con người khá đặc biệt, có cá tính lại được nhiều người biết tới; họ hoặc là bạn ở quê, bạn cùng trường, bạn văn nghệ hay là những người đã từng cùng Ninh qua một chặng đường nào đó; giả như có gì sai sót, không khéo người ta sẽ cho là hoa ngôn, xảo ngữ hoặc là thấy người sang bắt quàng làm họ…vv… nên cứ lần lữa mãi cho tới bây giờ.
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Sư phạm Qui Nhơn, tôi chọn nhiệm sở tỉnh Phú Yên và được điểu về dạy học ở trường Tiểu học Hòa Hiệp (người ta quen gọi là Trường Cây Bảng) thôn Phú Hiệp. Mỗi sáng thứ bảy, tôi thường để ra khoảng 15 phút cuối của tiết Sinh hoạt học đường kể chuyện cổ tích, tập hát hoặc cùng học trò làm những cuộc “Văn nghệ bỏ túi”, coi như là món quà vui trước ngày tạm nghỉ.
Một lần, tôi cao hứng tuyên bố: “Bây giờ thầy trò mình cùng hát, vậy em nào biết cải lương, tân nhạc, dân ca, ngâm thơ... gì gì đó chẳng hạn, biểu diễn cho bạn bè cùng nghe cho vui”. Chưa dứt lời đã có hàng chục cánh tay hào hứng đưa lên. Tôi chỉ định hú họa một em, em này mạnh dạn đứng dậy tự giới thiệu:
-Thưa thầy! Em xin hát bài “Trách phận”.
Rồi không cần lấy giọng, em “zdô” liền: Thân thì trách thân (này), thân sao mà lận đận. Mình mà trách mình (này), số phận...
Vừa tới đây, bất đồ cả lớp cùng reo lên: “Bài này em cũng biết, em cũng biết…”. Rồi chẳng ai bảo ai, đồng loạt tiếp lời: … số phận sao cứ hẩm hiu. Bởi thân tôi, tôi cơ khổ tôi eo nghèo, nên vợ tôi nó không ở nữa, (mà) nó theo… Mỹ rầu… (rập ràng y như đã dày công luyện tập từ trước) cho tới đoạn kết của bài hát khiến tôi rất ngạc nhiên, tò mò hỏi:
-Ủa! Sao em nào cũng biết hát bài này vậy hả?
Cả lớp cùng đồng loạt (lại đồng loạt) trả lời:
-Dạ. Bài này của anh Ninh “bài chòi” ngoài xóm Ga ạ!
-Sao lại gọi là Ninh bài chòi?
Một em ngồi đầu bàn đứng dậy giải thích:
-Dạ. Cái bài chòi này của anh Ninh ai cũng thích, cũng biết và hát được cả ạ!
Câu trả lời khiến tôi càng tò mò, bèn hỏi thêm một câu, giọng nửa đùa nửa thật: “Này, cái anh này mặt đen, mặt trắng ra sao mà sáng tác ra bài hát hay đến vậy?” thì đứa nào cũng ngớ mặt ra nhìn nhau bẽn lẽn mỉm cười. Vốn cũng là người sính nhạc, thích hát và biết một số làn điệu dân ca nhưng của đáng tội, cái thể loại bài chòi này, quả thật từ hồi nào tới giờ, đây mới là lần đầu tiên tôi được biết đến. Vậy là tuy chưa gặp mặt, tôi đã rất có “ấn tượng” với Ninh; định bụng sẽ tìm dịp làm quen, hẳn là thú vị lắm đây; nhưng rồi sau đó mãi bị cuốn vào công việc thường nhật nên chưa có cơ hội gặp gỡ, rồi hầu như quên bẵng.
Tết năm đó, trường chúng tôi cắm trại Tất niên và tổ chức một buổi diễn văn nghệ sân khấu. Trong khoảng thời gian này, Phú Hiệp còn thuộc vùng mất an ninh, nên bà con ở địa phương hiếm khi được dịp thưởng thức các loại hình giải trí vui chơi, hát hò; khi nghe đêm diễn văn nghệ của thầy trò trường Hòa Hiệp có đàn trống đình huỳnh, ai cũng háo hức mong ngóng trông chờ, coi như một ngày hội; nhiều thanh niên các thôn phụ cận còn xin tham gia một số tiết mục góp vui.
Là trưởng ban văn nghệ, đồng thời là người cầm đàn đệm cho ca sĩ “cây nhà lá vườn”, tôi phụ trách việc tập luyện luôn cho các cô cậu, trong đó có một “em” tóc chấm ngang vai mặt mày xinh xắn đang học nghề y tá, có chất giọng khá hay nhưng hát chưa được... chuẩn nhịp lắm nên tôi ráng bỏ công ra kèm cặp. Trai gái cùng tuổi đôi mươi, lòng xuân phơi phới gần gũi nhau dần dà ít nhiều nhen nhúm tình cảm, có lúc thăng hoa, tôi đã mường tượng rồi một ngày kia, nàng sẽ cười xinh xinh bên anh chồng thầy giáo. Nhưng… sự đời tưởng zdậy mà không hẳn là được zdậy. Chương trình văn nghệ diễn ra phần đầu khá suôn sẻ, tới nửa buổi bỗng một anh chàng từ đâu xuất hiện sau cánh gà tìm tôi nói trống không:
-Này! Có thể nhường “mình” cầm đàn cho cô... Th. hát được không?
-“Vậy sao được!” Tôi ú ớ từ chối: “Chúng tôi đã... tập tành đâu đó, bây giờ…!?” Nhưng anh ta cứ nằn nì:
-Thông cảm đi mà! Đây là “người quen”. Cô ấy là người tui… tui thương đó!
Tôi ngần ngừ một lúc, rồi không hiểu sao lại đồng ý trao đàn cho anh ta. Và kết quả tiết mục “Đêm buồn tỉnh lẻ”... bể đến thê thảm. Lý do đơn giản, anh ta chỉ quen chơi đàn thùng, khi chơi ghi-ta điện, âm thanh lạ quá nên quýnh quáng bị lỡ nhịp!
Tiết mục vừa chấm dứt, Th. quày quả bước xuống sân khấu vẻ mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, “nguýt” tôi một cái muốn đứt con mắt, và lạnh lùng một ra đi không (thèm)... trở lại! Vậy là tôi đành phải hát bài ca con cá: Em ơi! Nếu mộng không thành thì… thôi để chia tay với mối tình chưa kịp bén rễ.
Sau buổi diễn hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra bãi biển Lò Một trải bạt mở tiệc “khao quân” với nhau, gọi là ăn mừng thắng lợi. Không khí vừa sương sương, bỗng đâu một anh chàng đội mũ rơm, mang theo một cây đàn thùng sứt sẹo tới đứng bên, tay chống nạnh nói trổng: “Mình nhập bọn có được không?” Tức thì hai ba giọng đồng thanh mời gọi: “Được. Nhào zdô. Nhào zdô. Càng nhiều càng đông vui. Không sao đâu”. Vậy là cuộc chơi tiếp diễn. Được một lúc, hắn gõ gõ vào thùng đàn ra hiệu: “Mình làm một bổn giúp vui được không?” Lại hai ba giọng hùa theo: “Được, được quá đi chứ”. Chẳng cần màu mè phi-lô, hắn cất giọng đề-pa ngay: “Thân này, trách thân này, thân sao mà lận đận...”. Bầu không khí dường như hẫng đi chốc lát rồi tự nhiên sôi động hẳn lên. Ôi! Cái giọng khàn khàn, thô mộc, đặc sệt giọng “Nẫu” của anh ta trong bối cảnh bình dị chân quê ấy nghe sao mà “bốc” không chịu được. Vậy là cả bọn bắt đầu dòm trước dòm sau, thấy vật gì gần mình nhất là tiện tay vớ lấy, trưng dụng làm “bộ gõ” vừa đánh nhịp, vừa… la hét loạn xà ngầu. Nào lon bia, đồ hộp, muỗng nĩa, chén bát, đồ ăn thức uống… thôi thì tha hồ nhảy múa, vương vải lung tung; tới lúc tàn cuộc, “đứa” nào mình mẩy cũng mang đầy thương tích. Ôi! Đúng là một chiến trường tồi tệ!
Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Ninh, người phá bỉnh mối tình vừa chớm nở, nhưng lại trở thành người bạn thân thiết sau này.
… Có lẽ “Trách phận” do lời lẽ chơn chất, âm điệu gần gũi với giới bình dân nên đã là một tiết mục đặc sắc được nhiều nghệ sĩ biểu diễn thành công và hấp dẫn người xem; khán giả thưởng thức thường được cười thỏa thuê, và vui... hết cỡ. Có nghệ sĩ khi tới trường đoạn bi thương còn thêm thắt: lấy từ trong túi một cái khăn đã nhúng nước, giả đò lau mắt rồi vắt chảy ròng ròng để gây cho cái cười thêm phần... ướt át! Có điều đáng buồn, dẫu nổi tiếng là vậy nhưng người cha đẻ ra đứa con tinh thần tuyệt vời này lại rất ít được người đời biết tới; trong thời buổi tranh tối tranh sáng còn có “Vị” khi đem “Trách phận” lên sàn diễn được người hâm mộ phỏng vấn, cứ cười cười (chơi trò đánh lận con đen) không xác nhận, mà cũng hỗng thèm phủ nhận mình có đúng là tác giả hay không. Phần Ninh, vốn là người trầm tĩnh, ít ồn ào khoe mẽ nên mỗi khi ngồi bù khú với bạn bè, nghe họ kháo chuyện và tức khí “giùm” mình vẫn cứ làm thinh, giữ vẻ bàng quang như đó là “chuyện” của thiên hạ, chỉ khi nào cao hứng mới lập lại trật tự bằng cách mở lời “Nẫu ca” để cho lũ nồi-niêu-soong-chảo được dịp nhảy múa, thêm vui cửa vui nhà thôi.
Tuy được nhiều người ưa chuộng là vậy, nhưng thật ra trước đây Nẫu ca Trách phận cũng chỉ mới phổ biến trong phạm vi hạn hẹp, phải tới khi anh Phan Bá Chức (cũng là bạn rất thân thiết của Ninh) biên soạn và ký âm lại, đem xuất bản, rồi nhiều nghệ sĩ biểu diễn, thu âm, phát thanh trên các phương tiện truyền thông thì mọi người trong nước và hải ngoại mới biết tới.
Tôi nhớ hình như khoảng năm 1984 có dịp vào Sài Gòn, ghé tiệm sách thấy một xấp nhạc rời (sau năm 75 loại nhạc rời hầu như biến mất) liền tò mò lật ra xem chợt bắt gặp cái tên Trách phận (Lời: Nguyễn Hữu Ninh – Ký âm: Phan Bá Chức) liền mua một bản đem về, hí hửng đạp xe qua Phú Hiệp gặp Ninh định khoe công trạng, không ngờ hắn vẻ mặt tỉnh bơ: “ Biết rồi, tao nhận trăm hai tiền nhuận bút (Chức gởi ra) nhậu sạch rồi còn gì”. Tẽn tò nhưng cũng thầm mừng cho Ninh có được người bạn quý.
Theo một số người am hiểu thì Nẫu ca Trách phận được viết theo điệu Xuân nữ, một làn điệu dân ca thuộc khu Nam Trung bộ, trong tập “Ca Dao&Dân ca trên vùng đất Phú Yên” cũng có in bài Trách Phận do nhạc sĩ Lương Văn Thanh ký âm theo điệu này. Còn hoàn cảnh sáng tác thì Ninh đáp: “Gì mà đao to búa lớn thế? Chẳng qua gặp lúc cao hứng viết ra, đem hát chơi rồi người ta thích, người ta truyền miệng chứ có gì đâu”. Vậy thì xin mạn phép vẽ ra một bối cảnh thế này: Dạo đó chiến tranh lan rộng ngày càng ác liệt. Phi trường Đông Tác phải mở lớn, chạy dài tới sát nách thôn Phú Hiệp, kéo theo những snach-bar mọc lên san sát để đáp ứng nhu cầu cho đám binh lính viễn chinh đồn trú bảo vệ. Có lẽ ở xóm Ga này, Ninh là người được tiếng có chữ nghĩa nên thỉnh thoảng các chị em ta (phần lớn đều nhà nghèo, thất học hoặc có thân phận lỡ làng) thường nhờ đọc giúp hoặc viết giùm thư từ cho người nhà hay bồ bịch, người yêu… vv. Phải chăng những mảnh đời trôi nổi, trái ngang, những nỗi niềm tâm sự u trầm uất nghẹn phơi bày ra trước mắt làm cho Ninh cám cảnh mà viết ra Trách phận?
Ngoài giao tình văn nghệ, Tôi và Ninh còn có chung một sở thích khác, ấy là ưa đi giang hồ vặt. Hồi còn dạy học ở Hòa Hiệp, một lần cùng bạn bè nhảy tàu vào Đại Lãnh chơi, bước xuống ga thấy cảnh biển-trời mây-núi đẹp quá, tôi cầm chiếc máy ảnh lia một vòng định chụp vài tấm hình kỷ niệm, xui sao một bà đang ngồi ị trong lùm cây gần đó hiểu lầm đứng dậy một tay xách quần, một tay chỉ chọt chửi một trận te tua vuốt mặt không kịp, khiến cả bọn kéo nhau chạy vắt giò lên cổ; tưởng đã yên chuyện, không ngờ lát sau còn bị mấy anh lính an ninh thiết lộ, chận đường đòi tịch thu máy ảnh; may sao, trong số đó có một người biết Ninh bài chòi can thiệp giùm mới thoát nạn.
Tôi còn được nghe một chuyện gần như giai thoại về Ninh; ấy là vào hè năm 197… Ninh cùng một nhóm bạn học ra Qui Nhơn (không phải thi vào trường Sư phạm như mấy người kia mà chỉ để rong chơi); tới ga Phước Lãnh, tàu dừng lại chờ khách lên-xuống. Ninh bâng quơ nhìn qua cửa sổ, thấy một ông già mù ngồi trước sân ga, van nài khản cả giọng chẳng ai cho, bèn đội mũ lác, tròng mắc kính đen (vật bất ly thân của hắn) vào rồi xách cây đàn thùng xuống xìa đít kế bên, lên tiếng… Trách phận, đến khi tàu chuyển bánh chạy tiếp, nghe đâu số tiền những người hảo tâm bỏ vào mũ ông già cũng hòm hòm đầy túi.
-“Nói thiệt, là bạn lâu năm của Ninh, tuy biết tính hắn có lúc “ngông ngông” nhưng…” Anh bạn kia vừa cười vừa dí dỏm kể: “nhưng gặp hoàn cảnh này mình cũng đành chào thua”. Chả biết anh chàng này có thêm mắm thêm muối ít nhiều gì chăng, nhưng tôi đoan chắc một điều: Nếu như Ninh đã lên tiếng than thân trách phận bằng Nẫu ca, người ta không móc hầu bao ủng hộ mới là chuyện lạ!
Lúc đó, tôi cũng tức cười, đía vào một câu:
-Đúng là con người ưa thương vay khóc mướn!
Đối với tôi, Trách phận là một bài hát kỷ niệm khó quên kể từ buổi đầu gặp gỡ. Sau này, dẫu nhiều lần được nghe những ca sĩ chuyên nghiệp hát với dàn nhạc đệm xôm tụ, nhưng chưa bao giờ tôi có được cái cảm giác thăng hoa như lần cùng nhau bù khú giữa bầu trời đêm thô mộc ngoài bãi cát Lò Một. Duy chỉ một lần nghe anh Nguyễn Đình Cai với chất giọng nhừa nhựa (do tuổi tác), hào hễn Trách phận góp vui trong buổi dạ tiệc đồng hương, mới chợt rưng rưng, bất ngờ vì thấy trên đất Mỹ giàu sang hoa lệ này, bà con mình vẫn còn thích nghe và hát Nẫu ca để nhớ về quê mẹ.
… Khoảng năm 2.00… nhân một cuộc hội thảo văn nghệ dân gian, nhóm đàn ca sáo thổi chúng tôi có tham gia minh họa một số bài dân ca ở sân trường Cao Đẳng Sư phạm Phú Yên, riêng Ninh (dẫu muộn màng) cũng được mời lên trình bày tác phẩm Nẫu ca Trách phận của mình nhưng hình như không cảm thấy hào hứng mấy.
*
Cuối cùng thì sự thể cũng đã xẩy ra y như nó phải thế, Ninh nhẹ nhàng đi về vùng trời miên viễn sau một một thời gian lâm trọng bệnh. Dạo này Ninh thường mang chiếc đàn YAMAHA (nghe đâu của người em từ nước ngoài gởi về tặng ông anh) tới nhà bạn bè hát một số bài do mình mới sáng tác, đáng tiếc gặp đâu bỏ đó nên không ai tập hợp lại được. Tiễn đưa Ninh đến tận nghĩa trang có cả những người bạn quen lẫn chưa quen nhưng ai ai cũng đều tỏ lòng thương tiếc. Có lẽ lúc sinh thời, Ninh cũng không ngờ tình cảm người ta dành cho mình ướt át đến thế. Đứng lơ ngơ giữa bầu trời lộng gió với ngổn ngang nỗi niềm tâm sự, Tôi bâng khuâng nhìn những khuôn mặt sướt mướt nhạt nhoà thoạt ẩn thoạt hiện xung quanh, bỗng dưng bần thần ngẫm ngợi: người ta mỗi khi nghe hay hát bài ca Trách phận thường cười đùa vui vẻ, nhưng không hiểu, có một lúc nào đó, sau những phút giây hả hê sung sướng, liệu có ai ứa được, dù chỉ một giọt nước mắt nhỏ nhoi cám cảnh cho thân phận của nhân vật (người chồng bị vợ bỏ quên) trong bài hát như Ninh đã hóa thân “thương vay khóc mướn”?!... Và, đằng sau than thân trách phận có còn điều gì đáng cho người đời suy gẫm xét soi??...

Viết như một nén nhang thắp tình bè bạn
San Jose tháng 01/2011
Nguyên Đạt

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011

ĐIỆP KHÚC BUỒN - Nguyên Đạt


Xa quê nỗi nhớ xa quê
Ngót ngau
từng giọt cà phê đắng ngần
Trót leo tới đỉnh phù vân
Ngoái đầu nhìn lại
tuổi xuân ngỡ ngàng

Lang thang chừ vẫn lang thang
Đất người mờ mịt ngút ngàn chân mây
Khóc cười cơn tỉnh cơn say
Về đâu người hỡi tháng ngày hanh hao!?

Mùa Xuân giờ ở trên cao
Ước mơ - hoài bão xanh xao vọt vàng
Chuông chiều buồn chậm mênh mang
Gọi hồn cô lữ quan san dặm trường
*
Cố hương vời vợi cố hương
Tuổi thơ tôi đã lạc đường nơi nao?!
Còn đây một nỗi khát khao
Lời ru đồng vọng ngọt ngào hương yêu