Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Núi Nhạn & Trăng và Thơ


Tản mạn

Tôi sinh ra ở đất Thần Kinh (Huế), nhưng suốt hơn nửa đời người lại ngụ cư tại thành phố Tuy Hòa-Phú Yên, nơi chọn nhiệm sở sau khi tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn.
Tuy Hoà là một thành phố ven miền duyên hải. Sông, núi, ruộng đồng gần như nằm gọn trong lòng cho nên người dân nơi đây vừa hưởng được tiện nghi của văn minh đô thị lại vừa có được sự yên tĩnh của chốn thôn quê.
Ngay từ buổi đầu, tôi đã rất có ấn tượng với biển Tuy Hoà với rừng dương ngút ngàn, trải mình trên bãi cát trắng phau, thả xuống dòng nước biếc sóng gợn lăn tăn; thích nhất là lúc mặt trời sắp lặn, cùng người yêu ngồi bên bờ, ngắm những mảng ráng chiều thay màu đổi dạng soi bóng lung linh xuống mặt nước thẳm xanh; có khi nàng nũng nịu ngả đầu vào vai tôi, vừa lẩn thẩn đếm những con sóng xô bờ, nghe tiếng vỗ bì bõm của thuỷ triều đang lên, mơ hồ với cái cảm giác hạnh phúc mênh mang. Lúc ấy, tôi có cảm giác cuộc sống y như một thiên đường lãng mạn mà chúng tôi hằng mơ ước.
... Đã nhiều năm trôi qua, bây giờ tôi vẫn còn nguyên cái cảm giác thích thú mỗi khi nhìn cảnh sắc hiền hoà thơ mộng pha chút dáng vẻ cổ xưa, thanh bình yên ả của nó. Cuộc sống phố thị nơi đây không qúa cuồng nhiệt, không quá sôi động nhưng có khá nhiều niềm vui về tinh thần. Tôi đã có nhiều bạn “Nẫu” cởi mở, chơn chất mở rộng vòng tay đón nhận, hoà nhập với cộng đồng bà con bản địa; thét rồi, tôi gần như quên hẳn những thổ ngữ mô tê răng rứa quê nhà đến nỗi, một lần nọ gặp lại đám bè bạn cũ thời trung học Bán Công Quảng Phước, ngồi tâm sự, bù khú với nhau, có đứa lên giọng trách: “Mi nói giọng chi mô mà lạ rứa”?
May mắn, hắn chỉ hỏi cho có chuyện vậy rồi thôi, không vặn vẹo dài dòng nữa.


Từ Qui Nhơn, một thành phố bụi bậm vào đây, tôi cảm thấy ngạc nhiên và thích thú với những con đường rợp bóng cây xanh có nhiều hoa sữa, tôi yêu khu công viên tươi màu hoa nắng với những vòi phun nước li ti rì rào bất tuyệt. Và, mỗi khi nhìn đứa con nhỏ và mấy cháu bé lẫm chẫm bước tung tăng bên thảm cỏ mịn màng mát dịu, tôi cảm thấy lòng mình trở nên an bình thư thái.
Thời còn trai trẻ, vào những ngày nghỉ, tôi cùng người yêu và bạn bè thường rủ nhau qua đò bến Sạn, vượt sông Chùa tới Ngọc Lãng, (một làng quê trong lòng phố), mùa nào thức ấy, phong phú các loài hoa, rau cỏ, mía dưa, ngô khoai...
Cả bọn lén chui vào “soi”, thích thú thưởng thức tại chỗ, để suốt trên đường về, mùi vị ngọt lịm cứ đọng mãi trên môi.
Vào những ngày nghỉ, chúng tôi còn một thú vui khác là dìu nhau trèo lên mấy chục bậc cấp vòng quanh, thăm thú núi Nhạn, quẩn quanh bên ngôi tháp cổ, chiêm nghiệm những huyền thoại do mấy cụ già kể lại, hoặc tỉ mẩn nhìn những nếp rêu phong bám trên các gờ tường đoán già đoán non cỡ tuổi thọ của nó.
Theo lời mấy cụ, thì trước kia cây cối ở đây còn rậm rạp, có cả bầy khỉ trú ẩn, và chim nhạn theo lệ hằng năm thường đem bầy đàn trở về làm ổ mỗi khi tới mùa sinh nở, nhưng kể từ khi cư dân bắt đầu phát triển đông đúc thì chúng vắng dần…


Đúng là thiên nhiên đã ban tặng cho Đất Phú-Sông Đà một món quà ít nơi nào có được: Núi Nhạn với tấm thảm lá xanh non bốn mùa tươi tốt cỏng trên lưng mình mấy tầng tháp cổ soi bóng sông Chùa lượn lờ như con rồng uốn khúc nằm ngay trong lòng phố thị, đẹp, huyền hoặc và lãng mạng như bức tranh thủy mặc (chỉ có trong những câu chuyện cổ tích?!) mới thấy hết vẻ đẹp của thành phố hoành tráng gợi cảm đến nhường nào! Ở đây, thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt gặp các văn nhân, thi sĩ, hoạ sĩ, các nhà nhiếp ảnh, du khách đến vãn cảnh. Họ thường lang thang hàng giờ nhìn ngắm đất trời, nhìn ngắm thế giới lặng lẽ trôi đi để tìm nguồn cảm hứng:


Mở mắt nhìn quanh thị xã
Phố núp dưới mấy hàng dừa
Sông Ba như là người mẹ
Ủ ấp con trẻ sông Chùa... (*)

Được dịp đứng trên đồi cao, ta mới thấy hết vẻ đẹp của thành phố hoành tráng gợi cảm đến nhường nào!
Với những người yêu thơ và các thi nhân đất Phú sông Đà, từ rất nhiều năm nay đã quen:


Nguyên tiêu tìm về núi Nhạn
Để như chim nhạn ngày xưa
Tháp Chàm hóa thành tổ cũ
Khói hương sưởi ấm hồn thơ... (*)


Được nghe thơ, đọc thơ, ngâm thơ và thưởng thức thơ trên đỉnh Núi Nhạn quả là một niềm thích thú và hạnh phúc vô bờ, cái cảm giác đó mỗi năm có thể khác đi chút ít nhưng hầu như vẫn luôn còn tươi nguyên như mới. Đó là một nếp sinh hoạt văn hóa rất riêng thường xuyên được tổ chức gần ba chục năm nay với nội dung và nhiều thể loại phong phú, thu hút không những người dân đất Phú mà còn thu hút khách làng thơ từ các tỉnh bạn lân cận, thậm chí cả những nơi xa xôi như Huế và Thành phố... tìm về tham dự.
Đứng giữa thềm ngôi tháp cổ linh thiêng trầm mặc, nghi ngút khói hương, một thành phố nổi nằm trên một thành phố nổi trăng sao vằng vặc thả hồn thưởng thức, thì quả là tuyệt vời trên cả tuyệt vời:


Véo von lời gió giọng chim
Cho chơi vơi mỗi cánh tìm chơi vơi
Ngón tay khép mở tình người
Lay hồn thơ dậy thuyền môi bập bềnh... (***)


Thơ và ngâm thơ như là một làn hương mỏng, tinh tế, không phải ở bất cứ nơi nào, lúc nào cũng có thể dễ dàng cảm nhận.
Dưới chân ngôi tháp cổ nằm chơi vơi trên đỉnh núi, trôi nổi bềnh bồng nửa vời như cái gạch nối giao thoa giữa Đất và Trời; có khoảng không gian thênh thang khoáng đạt, lời gió vi vu, trăng sao vời vợi bàng bạc mây trôi; khách dễ dàng cảm thụ, cảm thông, cảm nhận, và hòa nhập lòng mình theo dòng thơ trữ tình mựơt mà, sâu lắng, mênh mang sương khói.
Lúc đó thì những ma chiết truân chuyên của cuộc sống đời thường dường như đã đi vào hư ảo để cho hồn thơ bay bổng, lai láng thăng hoa, để rồi sau đó lắng đọng vào tâm thức mỗi người mãi mãi:


Ngọt ngào khúc hát em ngân
Đưa anh về lại mùa xuân giữa đời
Giao thoa với đất cùng trời
Anh mang tiếng sáo ngỏ lời yêu thương!

Đã bao nhiêu năm nay, cái nhóm Đàn ca sáo thổi chúng tôi vẫn luôn luôn chung thủy với Đêm Thơ Xuân Núi Nhạn... Khi ngân lên một tiếng đàn bầu, rao lên một chuỗi đàn tranh, quyện hòa trong tiếng sáo vút cao đưa hơi cho người nghệ sĩ cất lên lời hát giọng ngâm chở hồn dân tộc là đủ hiện hữu quanh mình một góc quê hương đất tổ, bến nước, dòng sông, nơi ta chắt chiu những kỷ niệm ngọt ngào của tuổi thần tiên thơ mộng. Cái giây phút “cảm” ấy đủ để mỗi người “hiểu” và nhận diện cội nguồn của mình, đem lại sự đồng cảm giữa người với người và là sợi dây kết nối những tấm lòng với tấm lòng gần lại với nhau trong tâm tình thân ái....
Được đi nhiều nơi, tham gia nhiều buổi sinh hoạt thơ ca nhưng Đêm Thơ Núi Nhạn bao giờ cũng để lại cho tôi những ấn tượng đẹp, sâu hơn, và bền hơn với niềm cảm hứng thăng hoa đến tận cùng...
Trong bối cảnh mà có quá nhiều trào lưu âm nhạc, nhiều loại hình biễu diễn, và nhiều nguồn giải trí phong phú cung ứng cho người thưởng ngoạn; đêm Thơ Xuân vẫn được tổ chức đều đặn hằng năm trên núi Nhạn thu hút khách làng thơ không chỉ có các bậc cao niên, trung niên thôi mà còn khá nhiều giới trẻ hào hứng tham gia thì quả là điều rất đáng trân trọng, duy trì và cổ vũ.
Thật đáng mừng cho cái thế giới này vẫn còn cái đẹp thuần khiết của tình yêu nghệ thuật, vị nghệ thuật từ tiếng hót yên hoà của đêm thơ Nguyên tiêu mang đến.


***
… Tôi là người hành khách cuối cùng bước lên tàu. Mọi chỗ ngồi đã lốc nhốc những người, len qua đám đông đứng ken chặt trong toa, mãi lúc sau mới tìm đến được số ghế của mình và đành chia phần chỗ ngồi với một chị có đứa con nhỏ.
Đoàn tàu rú còi, nặng nhọc kéo lê những chiếc bánh sắt trên mấy thanh tà vẹt phát ra tiếng kèn kẹt nghe đến ê răng. Ngoái nhìn ra ngoài, nắng chiều đã trải dài, vàng rực khắp sân ga, dòng người đông đúc đưa tiễn; thành phố với những ngôi nhà cao tầng đang lùi dần về phía sau.
Bỗng dưng tôi cảm thấy lòng mình rưng rưng xao xuyến và buồn rũ, cứ như chuyến đi ra nước ngoài để định cư và đoàn tụ với con cái lần này sẽ là chuyến đi cuối cùng, và mãi mãi chẳng có ngày trở lại!
Thì ra, thành phố này bây giờ không còn đơn giản là một nơi tỉnh lẻ tạm dừng làm chốn ngụ cư để thỏa mãn tính “giang hồ vặt” một vài năm như tôi từng nghĩ khi buổi đầu mới đến, mà đất và người nơi đây từ lâu đã trở thành máu thịt, thân thương trong trái tim mình mất rồi. Bỗng dưng những dòng thơ của Đăng Nguyên hiện dần trong tâm trí:


... Nhớ hay quên cánh đồng xôn xao gió
Hạt lúa vàng như trĩu giọt mồ hôi
Thuyền và biển nhấp nhô dìu sóng vỗ
Nắng bồng bềnh theo mỗi bước chiều trôi…(***)


Ôi! Cứ tưởng thời gian chỉ như là cái chớp mắt, vậy mà đã có biết bao nhiêu chuyện xảy ra, bao nhiêu điều đáng nhớ, và bao nhiêu điều trăng trở buồn thương…


… Nhớ hay quên dẫu phố phường thay đổi
Đâu con đường in những dấu chân xưa?
Cho tôi ngắm quê hương thêm lần nữa
Để mai kia thương nhớ ngập muôn trùng (***)


Thung lũng Hoa Vàng tháng 7/2008


(*) Thơ Phương XL
(**) Thơ Hải Triều
(***) Thơ Đăng Nguyên



Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

MÓN ĂN QUÊ TÔI


Trìa Phá Tam Giang
Đối với những người dân sống dọc theo đầm phá Tam Giang như quê tôi thì Trìa là một món ăn ngon, rẻ, dễ kiếm, bổ dưỡng lại là nguồn kinh tế nuôi sống họ bao đời nay....
 Trìa hầu như có quanh năm nhưng rộ lên nhiều và ngon nhất là vào khoảng tháng 2- 3 hoặc 6-7 do thời điểm đó hai con nước giữa thuỷ triều nước mặn và nước ngọt giao hoà với nhau tạo nên nhiều vi sinh vật làm món ăn bổ dưỡng cho trìa. Vào mùa chính, lội ra tới nước xăm xắp bắp vế, đưa đôi chân rà xuống mặt cát thấy cồm cộm, cúi xuống lượm bỏ vào giỏ, không đầy buổi là thu hoạch đầy mắp một bao cát. Trìa phá Tam Giang thịt vừa mềm vừa dai, màu trắng hếu, thơm, tuyệt nhiên không có mùi bùn. Từ trìa ta có thể chế biến thành nhiều món ăn và món nhắm có chất lượng cao và khoái khẩu: Cháo-nướng, giả lộn-xào sả ớt-đổ chả trứng-cuốn bánh tráng chắm mắm chua ngọt...
Cháo trìa là món ăn thông thường, nhanh gọn, dễ nấu nhất: Khi bắt về, trước tiên người ta đem ngâm nước vài tiếng đồng hồ để trìa nhả hết các tạp chất; sau đó chà xát và thay nước cho sạch rồi luộc sơ cho tách vỏ để lấy phần thịt. Nước luộc trìa sau khi để lắng, lọc lấy nước trong, thêm một ít nước cho đầy son; khi gạo cháo vừa chín tới, lấy thịt trìa tao dầu mỡ phi hành tỏi đổ vào, nêm gia vị mắm muối vừa miệng và rải một lớp hành ngò tươi, tiêu bột lên trên là ta đã có một nồi cháo ngon tuyệt, thơm lừng đến nức mũi.
Trìa cột già to gần bằng nắm tay người lớn phần đít có màu vôi trấu; loại này nếu đem nướng thì ngon nhưng nấu cháo dở (xác lớn nhưng khô nước). Nướng cũng phải biết cách, ấy là dựng đứng (cho đít nằm dưới) để hai bên chín đều, nước rút vào thân thịt mềm và ngọt, nếu để nghiêng thì một mặt hả trước làm cho nước chảy ra khô xãi và chín không đều. Đối với dân nhậu thì món trìa xào lăn sả ớt hoặc vằm nhỏ cuốn bánh tráng chiên sơ đem nướng than là món nhắm bắt mắt và hấp dẫn nhất. Trìa hấp chín, chắm muối tiêu rau răm gọi là Trìa giả lộn. Trìa nhỏ cắt hai, trìa lớn cắt làm bốn, mỗi miếng nhét 1 hột đậu phụng, lấy trứng vịt đánh đều, cho thêm màu mè để khoảng 5 phút thấm đều rồi bắt chảo dầu (mỡ) phi hành tỏi chờ sôi đổ vào, gọi là Trìa chả trứng. Trìa cuốn bánh tráng vằm nấm trộn bún tàu chiên lên đem chắm nước mắm chua ngọt ăn cũng thật tuyệt cú mèo...!         

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012


Ngồi Quán Cà Phê Sỏi Đá
                                         Cái Trọng Ty K4

tháng chạp sài gòn đêm giáp tết
thấy trong mắt em những hồi ức một thời
đêm sâu lắng tiếng vỹ cầm nha phiến
em đẹp từ nhan sắc đường kim
tiếng đệm đàn đêm mưa mùa cố lý
hỡi hồn kiêu bạt chìm phế hưng
vạch nốt chân dung lên giấy dó
gió hoàng hôn thổi vọng cuối chân mày
thổi đắm say những âm thanh phù phép
ngón tay thuôn dài - em nhịp cần đàn tuyệt đẹp
một nốt trầm khúc dạo ngang cung
ngón trỏ búng giây tiếng tình rơi nhẹ
từ môi cười em nũng nịu bước ra
trên suối tóc nghiêng thấy dòng nước biếc
xanh một màu quyến rũ gói tròn tôi 
em của ai đêm ngập ngừng hôn phối
ngồi quán cà phê Sỏi Đá nhìn em
chỉ nhìn thôi mà hình như tình nợ
trên chuyến bay về Bắc Mỹ đêm ba mươi
bỏ lại tiếng đàn  - tình anh bóng vỡ
sóng tình giao thoa - bãi bến vô bờ
nhìn đáy cốc bơ vơ chiều giáp Tết
thấy dung nhan em xao xác bên trời
em tuổi hai lăm say một sóng đời
em tuổi ba mươi tình say tương khúc
những giòng thơ biệt xứ viết tên em
ôi cô gái tôi mơ - em chưa từng có tuổi
tôi chưa từng.cũng chẳng biết tên em
tuổi của tôi ư - hoài phí buổi chiến chinh
về gặp lại em.nỗi buồn rầu vô xứ
tuổi ngục tù đá cũng chảy em yêu

               CHIỀU MUỘN
                                   Truyện ngắn-Nguyên Đạt

Họ cùng học chung lớp Đệ Tam C. Họ quen và yêu nhau một nửa năm sau đó, rồi cưới nhau khi cả hai cùng vượt qua kỳ thi Tú Tài bậc Trung học. Một căn phòng nho nhỏ xinh xinh, một quán cà-phê “cóc” nằm dưới gốc me già cuối phố cũng vừa đủ cho cặp vợ chồng son trẻ thoả nguyền mong ước. Vài năm sau, hai bé gái đẹp như búp bê lần lượt ra đời góp thêm tiếng cười trong gia đình vốn đã ắp đầy hạnh phúc. Bạn bè, đứa nào cũng mừng giùm cho họ…
                                                      *
Chính cái dáng dấp quê đặc của cậu chàng làm Quỳnh Thư chú ý. Trong khi cả lớp đứa nào cũng ăn mặc tinh tươm, đi giày đế “quya”, chải đầu láng mướt thì hắn ngược lại, chẳng có chút khái niệm gì về cách phục sức, áo quần luộm thuộm, bộ dáng lúc nào cũng lóng nga lóng ngóng, trông… ngô ngố (dễ ghét) làm sao ấy! Rồi lại thêm thỉnh thoảng lại biến khỏi lớp học dăm ba bữa, đôi khi suốt tuần. Mỗi lần như thế, bố mẹ hắn phải khăn đen áo dài tới trường năn nỉ ông hiệu trưởng hết nước miếng, ông ta mới thể tình chấp thuận cho vào học lại. Bạn bè có đứa tò mò hỏi chuyện: “Này! Lâu lâu cậu lại biến đi đâu mất tăm vậy?” thì hắn trả lời giọng tỉnh bơ:
-Đi Sài Gòn để hưởng cái thú tha hương, và thêm một chút thú… đói rách cho vui ấy mà.
Câu nói ngang phè, có phần hơi tối nghĩa của hắn khiến đám bạn bè nhao nhao lên tiếng:
-Hừ! Hưởng thú tha hương thì cũng được đi. Còn cái chuyện hưởng “thú” đói rách thì… quả là mình không thể nào hiểu nổi!?
-Gì mà không hiểu. Có đói rách thì mới có nhiều cảm hứng để sáng tác, mới thai nghén được nhiều tác phẩm hay chứ.
-À thì ra thế? Vậy những sáng tác của cậu đã gởi đi đâu, và có tờ báo nào chịu in chưa?
Hắn trả lời tắp lự:
-Ừ. Tớ gởi cũng khá nhiều báo. Nhưng… -Hắn nhoẻn miệng cười buồn: “Nhưng hình như vẫn còn nằm nguyên ở… hòm thư ấy” (!?).
Bạn bè mỉm cười dè bĩu, cho hắn là anh chàng hâm, kháo nhỏ:
-Ừ. Hắn ta muốn trở thành nhà Văn đấy “mình” ạ! Nhưng theo tao, có lẽ cả đời, hắn chỉ sáng tác được duy nhất mỗi cái bút hiệu Phạm Mặc Tường Ly Sơn trình làng là cùng.
Một tối, Quỳnh Thư lục cặp chuẩn bị bài vở cho sáng hôm sau, bất đồ thấy một tập giấy thò ra, rơi xuống sàn nhà; nàng cúi lượm, rồi tò mò mở ra xem, và trố mắt thích thú: một cặp bướm ngài được ép khô tuyệt đẹp, nằm châu đầu vào nhau trên tờ peluyafor trắng tinh.
Nàng trầm trồ xuýt xoa: “Ồ! Lùng sục khắp cả vườn hoa Đại Nội chắc gì kiếm được đôi bướm nào quý hiếm hơn cặp bướm này nhỉ?” và tiếp tục đọc hàng chữ bằng mực tím nắn nót chua bên dưới: “Nếu chỉ một mình thì đời sẽ buồn thiu hiu quạnh. Nhưng có hai mình, đời sẽ chẳng còn quạnh vắng buồn hiu. Quỳnh Thư nghĩ sao nhỉ”?
Vậy là cái anh chàng cà ngáo, ngu ngơ kia lọt cái rụp vào đôi mắt xanh của cô nàng nổi tiếng kiêu sa nhất lớp.
                                                                  *
“Cuộc Tình Bướm” đã cho Sơn những bước tiến thăng hoa, đã gợi mở, chắp cánh cho ngòi bút của anh bay tới những miền trời trăng sao sáng rỡ. Lần hồi Sơn cũng đã khẳng định cho mình được một chỗ đứng trong làng thơ ca, văn học. Một số tác phẩm của anh đăng ở tạp chí địa phương, một số khác được in ở tờ Văn nghệ thành phố và mấy tờ báo hằng ngày…
Hôm hoàn thành tác phẩm đầu tay có cái tên “Hoa Bươm Bướm” mà anh chắt chiu trìu mến qua nhiều năm tháng, đám bạn bè hùn nhau tổ chức một đêm thơ ra mắt giùm Sơn. Chính Quỳnh Thư, vợ anh lôi chiếc đàn tranh (quà tặng của mẹ thời còn đi học) phụ đệm cho các ngâm sĩ diễn đạt và minh hoạ những bài thơ (đứa con tinh thần) của anh với đám bạn bè, thân bằng quyến thuộc ở Câu lạc bộ Văn Hoá-Văn nghệ Thành phố.
Ngồi khuất sâu ở góc tối cuối phòng, Sơn say sưa thụ hưởng niềm vui, mặc cho trí tưởng chập chờn lang thang với mây ngàn gió núi mà bụng thầm mong sao nhịp đời cứ mãi mãi trôi xuôi như dòng suối nhỏ yên bình, không phải băng qua biển cả thác ghềnh phong ba bão táp. Nhưng… Liệu có được chăng khi đời vốn luôn luôn đỏng đảnh, chẳng chịu nuông chìu bất cứ một ai (!?). Bỗng dưng, Sơn cảm thấy bàng hoàng với cái dự cảm bất tường vừa thoáng qua tâm trí.
                                          *
… Dòng đời vẫn tuần tự đi qua trong mông muội của cuộc sống; ngày vui cứ tiếp nối những ngày vui, các Văn nhân, Thi sĩ tấp nập rủ nhau mang theo thơ phú với những câu chuyện (trên trời dưới đất) làm quà ghé quán “cà phê cóc” của đôi uyên ương ngày một đông đảo hơn. Họ nghiễm nhiên coi cái góc riêng này như một nơi dành riêng cho những “tâm hồn lớn” gặp nhau để bù khú, và tán gẫu.
Rồi một ngày đẹp trời, Toàn, người bạn thân của vợ chồng Sơn theo đà câu chuyện đẩy đưa:
-Anh Sơn à! Chị Quỳnh Thư đàn có nghề lắm! Đêm Thơ-Nhạc của anh thành công phần lớn cũng do ngón đàn tuyệt diệu của chị ấy đấy. Hay là…
Toàn nở một nụ cười (cầu tài) gợi ý: “Hay là mình tổ chức một Câu lạc bộ gồm toàn nghệ sĩ chơi nhạc cụ dân tộc đi. Chị Quỳnh sẽ có cơ hội bộc lộ hết tài năng của mình. Chắc hết ý đấy nhé”!!?
-Eo ôi! Tôi mà biểu diễn gì? -Quỳnh Thư bụm mặt kêu lên: “Ngượng chết đi được”.
-Rồi sẽ quen thôi chị ạ. Thời buổi bây giờ, các nhà hàng, khách sạn, người ta toàn chơi nhạc giựt, khiêu vũ ầm ĩ cả lên; không chừng loại hình thơ ca, dân nhạc (tìm lại cội nguồn) như mình lại trở nên đắc địa, thu hút nhiều khách làng thơ và khán-thính giả cho mà xem.
Quỳnh Thư ngước mắt nhìn Sơn dò hỏi, cười cười thú vị, có vẻ như đã hơi xiêu lòng, nhưng vẫn ngần ngại:
-Nhưng…
-Không nhưn-nhị gì hết. -Toàn cướp lời: “Hãy đến chỗ tôi đi. Anh chị thử nghĩ coi, cái quán cóc liêu xiêu thu nhập nhì nhằng này lấy gì cho cả nhà đủ sống? Với lại, hai cháu Thục Oanh và Diễm Hương rồi đây tuổi lớn, biết bao nhu cầu thiết yếu khác sẽ phát sinh, khi đó lấy gì để cung ứng cho các cháu ăn học. Anh chị thấy sao hả?

Thế là từ đó, đêm đêm nhà thơ Mặc Tường Ly Sơn cắm cúi đèo vợ trên chiếc xe đạp cà tàng đi làm việc. Quả nhiên, Câu lạc bộ Thơ-Nhạc Dân ca có vẻ ăn nên làm ra, khách thưởng thức lui tới ngày càng đông. Thỉnh thoảng Câu lạc bộ còn nhận đi biễu diễn những show ở nhà hàng cho khách nước ngoài xem, thu nhập cũng bộn. Nghệ sĩ đàn tranh Quỳnh Thư đã nổi tiếng. Đêm đêm, trong sênh phách mơ hồ, khách làng chơi đã quen lệ tới Tụ điểm âm nhạc thưởng thức thơ ca và ngón đàn điệu nghệ của kiều nữ Quỳnh Thư, say mê dõi theo dáng hình thon thả, lưng tựa bên rèm với mái tóc óng ả mượt mà chảy dài trên cần phím, tuôn ra những âm điệu réo rắt, trầm buồn ai oán như lời người cung nữ một đời bị bỏ quên sau lưng điện ngọc, để cảm thương, để nhung nhớ, để tơ tưởng, và… để rưng buồn giữa “đêm dài lắm mộng”. Ôi!
Lênh đênh mười sáu dây tình
Mới nghiêng cánh nhạn đã thành câu rao
Gió mưa nương náu dây nào
Tình anh sao bỗng lạc vào nước mây?!? (*)
Hào quang của sự thành công làm Quỳnh Thư tự đánh giá lại mình, nhìn lại người, rồi cảm thấy chồng mình tầm tầm thế nào ấy. Dần dà nàng đâm ra ngượng ngùng khó chịu trước cái tuềnh toàng chân chất của Sơn, một con người ngây ngô, luôn dững dưng trước cảnh đời thực dụng.
Thấy Sơn vất vả, Toàn chủ động đề xuất để mình dùng xe gắn máy đón đưa Quỳnh Thư giúp, vừa nhanh gọn, vừa thuận lợi cho công việc hơn. “Vậy cũng được”! Sơn lẩm bẩm đồng ý. Mặt hồ vẫn còn như bình lặng; nhưng… dường như đâu đó đã gợn lên vài dợn sóng lăn tăn; anh mơ hồ liên tưởng…
                                                      *
… -Chuyện là vậy đó anh à! -Quỳnh Thư vùi trong tiếng khóc dã dượi tấm tức: “Em đã qúa lạt lòng không cưỡng nổi để xảy ra cơ sự. Em có “tội” với anh. Em van anh, hãy tha… tha thứ cho em”.
Sơn câm nín một lúc lâu, không biết phải nói gì với vợ; chuyện đời trần trụi đột nhiên phơi bày trước mắt khiến anh sững sờ bãi hoãi, chưa tin đó là sự thật. Lặng nhìn bóng nắng cuối ngày vật vờ leo dần bên ngoài cửa sổ, Sơn tự hỏi: “Ôi! Sự thực lại cay đắng nghiệt ngã đến thế này ư”?! Trong liền gần cả chục năm nay, vợ chồng anh đã được mọi người hâm mộ tán dương, cho là một cặp đôi hạnh phúc nhất đời; vậy mà giờ đây, nàng đang ngồi trước mặt anh với lời thú tội, những lời thú tội (sống sượng) đến không thể nào tin được.
Anh quay sang vợ, cố giữ bình tĩnh, trầm giọng hỏi:
-Vậy bây giờ em tính sao?
Như đã chuẩn bị sẵn đâu đó từ trước, Quỳnh Thư chăm bẵm trả lời:
-Phải xa nhau thôi anh ạ! Mình không thể tiếp tục sống với nhau trong mặc cảm được anh ạ.
-Vậy mấy đứa con của mình? Không lẽ để chúng phải…
-Đành vậy thôi. Em sẽ cố để dành tiền gởi về cho anh sinh sống và nuôi con.
-Không…! -Sơn bức bối hét lên: “Tôi không cần tiền. Tôi và con chỉ cần em. Có em thôi”! Rồi ôm mặt nức nở khóc vùi…
*
Vậy là nàng đã ra đi. Anh biết nàng muốn ra đi nên không buồn cầm giữ, nếu muốn ở lại, nàng cứ giữ tình trạng mập mờ, anh nào hay biết. Thôi, ít ra nàng cũng có lòng trung thực nói ra việc mình làm, không lừa dối anh.
Sơn trải qua những ngày tháng thật nặng nề và bi thảm, tâm hồn anh hoàn toàn trống vắng hoang vu như con thuyền không bến đậu. Anh muốn buông xuôi tất cả trong men say, tới đâu thì tới; nhưng rồi mỗi ngày lại xảy ra cái chuyện cơm-áo-gạo-tiền, mỗi ngày lại phải đối diện với vô khối chuyện sĩ nhục của cuộc sống trước mắt khiến anh phải bận tâm. Anh biết mình không thể mãi hoài bước đi trên con đường hiu quạnh mà phải tìm ra một lối thoát, chí ít cũng tránh cho hai đứa con gái tội nghiệp của mình vốn đã đau buồn vì thiếu mẹ, nay lại phải gánh thêm những thương tổn của tâm hồn.
Thế rồi với chiếc mũ nồi nghễu nghện trên chiếc đầu bù rối, với bài “Xích lô hành” lận túi bên lưng, Sơn lượn lờ khắp nẻo đường phố xá kiếm kế sinh nhai:
Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Về đây sau một kiếp giang hồ
Thợ không ra thợ vì cô thế
Thầy chẳng ra thầy bởi lỡ cơ
… Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Đạp cho xong hết một đời phu
Chở đau thương về cùng nghĩa địa
Chở hạnh phúc về với tuổi thơ (**)
*
Đêm trăng ngời ngợi, nền trời trong xanh, xanh thẳm như được chiếu sáng đến tột cùng giữa một đêm hè thanh quang thoáng đãng. Anh lại tìm về nơi chốn kỷ niệm ngày xưa. Cũng tại chỗ này, cũng vào một đêm trăng như thế hơn chục năm trước, Sơn và Quỳnh Thư sau cả một buổi chiều cùng đám nhóc chạy theo đoàn làm phim xem quay cảnh “Mỵ Châu Trọng Thuỷ” đã nán lại bên bờ hồ Tịnh Tâm này thủ thỉ tâm tình, hẹn thề với nhau lời nguyền chung thuỷ. Nghe nói ngày xưa, các vua nhà Nguyễn sau buổi thiết triều, thỉnh thoảng cũng thường tới đây để thưởng ngoạn, tìm những phút thư giãn để tâm hồn tĩnh lặng lại sau một ngày vất vả lo toan cho đám thần dân; nhưng bây giờ thì Sơn ngồi đây với một tâm trạng rối bời.
Ngôi thuỷ đình với chiếc mái ngói cong cong bị những cành cổ thụ vươn dài phủ trùm, chia cắt ra nhiều mảng nhỏ in hình trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng giữa mấy đọt ngó sen lô nhô, biến thành một vệt dài đen thẫm trông dị dạng chẳng khác nào khuôn mặt của Sơn sau những ngày bươn chải giữa cảnh đời hoang mạc. Mùi của bùn, của nước, của lá cây mục và cả mùi hương hoa nữa đan quyện vào nhau thành một thứ mùi tạp nham khó ngửi, nhưng sao nó quen thuộc, gợi nhớ tới người xưa da diết đến thế nhỉ?!
… Một đám mây lớn chầm chậm bay qua, thoáng chốc, bầu trời tự nhiên tối sầm lại, Sơn ngồi tỉ mẩn cầm từng viên sỏi nhỏ tung xuống mặt hồ rồi dõi theo những vòng hoa sóng bám, đuổi bắt nhau, thốt nhiên bật lên tiếng thở dài cảm thán: “Quỳnh Thư ơi! Em mãi mãi vẫn là một phần đời không thể thiếu của riêng anh”.
Có tiếng chân khua nước đâu đây phía dưới dãy hành lang ẩn khuất sau khúc quanh của ngôi thuỷ đình u tịch, một tiếng thổn thức nhẹ tênh như ai đó cố tình nén lại,  theo gió thoảng đưa, rồi một bóng đen chạy vụt qua, chớp mắt mất hút dưới hàng cây tím thẫm. Anh giật mình, hoang mang nhìn theo, chỉ kịp nhận ra một bóng dáng thon thả thân quen đến lạ…
Ngoài kia, tiếng gió vẫn lao xao rền rĩ trên những tán lá xào xạt vọng khắp mặt hồ. Một loại tiếng như được sinh ra từ cõi bờ xa thẳm.
                                            Tháng 6/2012
                                              Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

 Mải Miết Hồn Quê

xa quê chửa được bao ngày
mà con chim mộng bay đầy trang thơ
trời cao đất thấp ơ hờ
để riêng ra giữa trăng chờ gió mong
 

một con sông một khúc lòng
mịt mù bóng dáng chập chùng bèo mây
trăng chờ gió đợi chi đây
tháng ngày chỉ những… ô hay là buồn
 

con sông có nhớ ngọn nguồn ?
sao ta mải miết một hồn quê xưa

Cuồng Vũ
San jose những ngày xa quê

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

 CHIẾC NÔI ĐẦU ĐỜI
Truyện Ngắn

Cháu là người đầu tiên của dòng tộc nhà mình được sinh ra trong ngôi làng này đó, sau này cháu phải cố làm sao cho dòng họ nhà mình được mở mày nở mặt với người ta nghe cháu. Ông nội thường vuốt tóc và âu yếm nói với tôi như thế mỗi lần ông-cháu có dịp gần gũi bên nhau. Tuy còn nhỏ dại, chưa thấu hiểu hết những điều ông dạy bảo nhưng tôi vẫn đinh ninh trong bụng là sẽ làm đúng như ý ông, bởi, nội là người mà suốt cả đời, luôn làm cho tôi kính yêu và ngưỡng mộ hơn ai hết…
Theo như lời bố thì nội là người có máu giang hồ lãng tử gi gì đó. Sinh ra ở một quê xứ nghèo đến đỗi chó ăn đá-gà ăn muối; chưa đầy mười sáu tuổi ông đã bỏ làng ra đi tìm kế sinh nhai. Chỉ với một cái túi đựng cưa-bào-dùi-đục, ông lang bạt hết làng này qua làng khác miệt mài xây dựng sự nghiệp cho tới ngày gặp được bà nội và cưới luôn làm vợ. Bà nội không hẳn là người con gái đẹp nhất làng nhưng được ông quí trọng và yêu thương; bà cũng biết thế nên cố gắng hết mình để mang lại hạnh phúc đáp đền cho ông. Bà đúng là mẫu người thuỷ chung hiền thục, một lòng một dạ phục tùng chồng; ý ông thế nào thì ý bà cũng vậy, chưa bao giờ hai người có chuyện cãi vã lớn tiếng vì bất đồng chuyện này hay chuyện nọ. Hơn chục năm sau ngày cưới, bà lễ mễ khăn gói theo chồng dọc ngang hết vùng này sang miền khác. Ông nội thì chả thích ở lâu một chỗ, cứ vừa dọn tới đâu đó một thời gian, khi mà những niềm vui của sự đổi thay qua đi là ông lại bốc cả nhà dời đi nơi khác; bởi vậy cái tên của bố và mấy cô chú tôi nghe rất ngộ. Đại loại bố tên Đuồi vì được sinh ra cuối doi cồn cát bên bờ sông trong một chuyến chợ phiên. Chú tôi thì khi mới sinh ra còn đỏ hỏn, gặp lúc giặc giã tràn tới, cả nhà phải đùm túm ôm nhau chạy loạn nên đặt tên là Chạy. Cô Rơi thì bị đẻ rớt ở vồng khoai lang…vv…và…vv….
Khi ông quyết định cắm dùi vĩnh viễn ở làng này thì bố tôi đã trên dưới ba chục, còn cô Út cũng vừa ưa tới tuổi lấy chồng.
Thật ra khi ông mới tới ngụ cư, cảnh vật nơi đây còn mang vẻ tiêu điều hoang sơ lắm; lèo tèo đâu khoảng mươi nóc nhà thưa thớt do một nhóm nhỏ cư dân từ làng trên tách ra nằm rải rác trên bãi cát dài mênh mông, dày đặc toàn xương rồng và những cây dứa dại nên chưa thể gọi là làng được. Cụ Tổ làng sau mấy mùa liền thất bát thấy không thể sống thuần bằng nghề nông được mới đề xuất với ban hương lý cho mình và con cháu được dời ra doi đất phía dưới để làm ăn sinh sống. Mót máy hết lưng vốn, cụ cũng chỉ vừa đủ tiền nộp phí lệ làng cho xuất đinh và xuất ấp nhưng điền thì đành chịu. Bởi thế cả làng chẳng một ai có lấy mảnh đất canh tác. Cũng may sản vật của vùng đầm phá rất phong phú; những năm đầu dân làng mò cua bắt hến ở ven bờ đem bán, mua lại lúa gạo cũng đủ đắp đổi qua ngày. Đối với lũ trẻ chúng tôi, phá Tam Giang không những là người mẹ bao dung đã cưu mang mấy đời ông cháu mà còn là người bạn thiết thân qua từng tuổi lớn; từ lúc tóc còn để chỏm, ở lỗ tồng ngồng chạy chơi trên rìa phá hoặc cùng nhau bưng đất làm đìa, đào ao tát cá, chia phe tập trận, đùa vui trửng giỡn… Rồi tới một lúc nào đó, đôi tay biết nắm lấy quai chèo, đôi chân biết nhún nhảy sau dầm lái với giọng hò mới vừa vỡ tiếng, khàn khàn y vịt đực; rồi tiếp nối là những đám cưới, rước họ đưa dâu, gắn kết cuộc sống lứa đôi giữa hai bến bờ sông nước…
Khi vừa tròn sáu tuổi, một lần ông nội dẫn tôi ra đứng trước sân nhà, ánh mắt hể hả đưa tay chỉ bao quát một vòng ngôi nhà ba gian hai chái xoa tay mãn nguyện:
-Cháu thấy cơ ngơi của ông có bề thế không?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã tiếp với giọng trầm buồn như mơ màng tiếc nuối:
-Giá như ông đây chịu khó ở yên một chỗ thì nói chi tới nhà ngói ba gian mà phải là…
Bà đang ngồi bên cơi trầu nghe ông nói vậy, nheo mắt nguýt một cái rõ dài:
-Hai ông cháu lại bắt đầu nói dóc rồi đó.
Tôi kề bên tai ông nói nhỏ:
-Ấy. Bà giận ông rồi đấy!
Ông cười khà:
-Dễ gì giận ông được hả cháu. Để rồi xem…
Coi bộ thường ngủng ngẳng thế nhưng ông bà thương nhau ra phết, rất hiếm khi họ giận hờn, trách móc hay đỗ lỗi cho nhau. “Hơn thua làm gì để rồi sứt mẻ tình cảm gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau”. Ông thường nói với bạn bè như thế: “Nhịn là tốt nhất, mình đã chịu thua thì đối phương lấy gì gây hấn hà, hà…”.
Một bận không hiểu chuyện gì mà bà nội hờn lẫy, chê bai ông đủ thứ, ông chỉ cười cười, nửa đùa nửa thật bảo: “Tội nghiệp cho bà. Không ngờ xui xẻo lấy phải một ông chồng tệ quá. Mần răng đây hở?” -Đang thao thao bất tuyệt, nghe vậy bà đâm ra chột dạ, biết mình đã ăn nói quá trớn. Từ đấy hễ khi nào giận dỗi, bà chỉ dám hành hạ lũ chén bát trong chậu rửa, khua khoắn cho tụi nó chửi lộn lẫn nhau một lúc để hả dạ chút đỉnh rồi thôi.
Hồi đó, thường khoảng ba tháng một lần, các quan hàng tổng, bạn bè thân hữu và đám chức việc quen biết, sau buổi lên huyện vấn an mấy vị bề trên trở về, thế nào cũng ghé thăm ông, vầy cuộc tổ tôm, đổ xâm hường hoặc chơi trò mạt chược; sau khi mãn cuộc thì ngồi lại cùng đánh chén lai rai; nhà cửa hôm đó thiệt đông vui rộn ràng như ngày hội. Bọn trẻ loi choi như chúng tôi quả là khoái chí vì được ông giao cho nhiệm vụ quan trọng là đi cắt cỏ tươi đem về bỏ đầy mấy chiếc giỏ tre đeo dười cổ ngựa cho chúng ăn. Được dịp vỗ về chăm sóc, tận mắt, tận tay rờ bụng rờ mông mấy chú ngựa thồ cao lớn dũng mãnh oai phong, bọn nhóc chúng tôi không những thỏa mãn cái tính hiếu kỳ, mà lại còn được các cụ thưởng cho mấy xu bạc cắt, túi kêu rủng rẻng nghe thật vui tai nên mặt mày đứa nào cũng tươi roi rói.
Vốn biết tính ông nội sính khách lại hơi nóng nảy nên người nhà ra sức đốc thúc nhau hối hả dọn bàn, lắm lúc để xảy ra sơ sót. Một lần, ngồi vào bàn tiệc, nội tinh mắt phát hiện trong đĩa thịt phay có lẫn cái mề gà còn dính chùm với cuống họng chưa kịp bóc ra, vội gắp hết bỏ vào chén mình tránh để quan khách khỏi nhìn thấy. Hôm sau nội kêu mọi người lại, ai cũng len lét nhìn nhau e rằng sẽ bị quở trách một trận tơi bời hoa lá, nhưng hóa ra ông chỉ dịu dàng dạy bảo: “Phàm việc gì cũng vậy, biết cách sắp xếp thì vừa nhanh lại vừa gọn cả thôi. Như chuyện hôm qua ấy, nếu ngại khách khứa chờ lâu thì sau khi vặt sạch lông gà, ta tách riêng hai đùi luộc trước đem bóp rau răm cho họ nhắm lai rai, các món khác từ từ xào nấu rồi tiếp tục dọn lên có phải nhất cử lưỡng tiện không?”. Ông tôi là vậy đó, không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để giảng giải và truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết của mình cho những người xung quanh (tuy có hơi dài dòng văn tự một chút); nhiều lúc quá cao hứng, ông diễn thuyết say sưa đến sùi bọt mép. Tội nghiệp bà, cặp mắt cứ phải nhấp nháy nom theo từng động tác của ông, ngay ngáy thầm lo cho cái mạng sống mong manh của lũ chén bát và mấy thứ đồ cổ đắt tiền, bởi trong lúc diễn giải, ông có thể khua tay, múa chân hoặc tùy tiện cầm chúng, ơ hờ đặt vào bất cứ góc cạnh, xó xỉnh nào.
*
Khi đã cảm thấy tuổi già sức yếu, nội giao hết công việc trong ngoài cho bố, bây giờ ông chỉ thuần nằm đọc truyện Tàu, chăm sóc cây cảnh, đi thăm thú bạn bè đâu đó hoặc lâu lâu mời họ tới chơi nhà cùng uống trà, thả thơ ngâm vịnh gọi là: Tuổi cao còn lắm ước mơ - Trồng cây cho đất, làm thơ cho đời. Những cuộc họp mặt của mấy ông bạn già thiệt ngộ; nhiều khi họ ngồi với nhau suốt buổi chẳng thèm nói năng tâm sự gì sất, vậy mà xem ra khi từ giã ra về họ lại rất vui, rất hào hứng và thoả mãn.
Tuy không giữ một chức viêc gì trong làng xã, nhưng ông nội lại được bà con trọng vọng gọi là ông Bộ do thường ra tay hóa giải thành công những vụ tranh chấp đất đai nho nhỏ, những chuyện bất hòa trong gia đình hay kiện tụng linh tinh không đâu vào đâu làm mất tình cảm hàng xóm láng giềng…Bà nội vốn là người chu đáo, sắm sanh cho ông đầy đủ lệ bộ nào là áo dài the thâm, khăn đóng, giày hạ… để mỗi lần đi đây đi đó hay tham gia phương việc hành lễ, tế tự ở đình làng miếu mạo được danh giá bài bản, còn ở nhà thì may cho ông áo vạt hò ba tà, quần đáy chèn dăm bộ, nhưng hễ mỗi khi cần lấy ra mặc, nhiều lúc tìm tới đỏ con mắt chẳng thấy đâu. Bị bà hỏi riết ông đành sường sượng nhỏ giọng thú thiệt: “Thông cảm hoàn cảnh anh bạn xóm trên nghèo khó hơn mình nên đem biếu cả”. Lần này bà nội giận ông khá lâu, chẳng thèm nói năng trò chuyện ba bốn ngày liền; nhưng rồi với cái tài tiếu lâm đàng điệu của mình, ông buộc bà phải cười lăn chiêng đổ đèn, và cuối cùng, mọi sự đâu lại vào đấy.
Là một người thông nho lại biết cả chữ quốc ngữ nên ông nội rất yêu thích thơ phú-văn chương. Hằng năm, cứ mỗi dịp đầu xuân ông khai bút một lần. Những bài thơ làm được trong dịp này ông gởi tới nhóm bạn bè thân hữu cùng thời học chữ Hán-nôm còn sót lại, hẹn nhau đúng đêm nguyên tiêu kéo ra giữa lòng sông, uống rượu thưởng trăng và xướng ca ngâm vịnh. Họ gọi đó là Bữa tiệc Tản Đà trên giòng phá Tam Giang.
Vào khoảng chạng vạng tối đêm rằm tháng giêng, không gian vừa mới nhọ mặt người, mọi người đã tập hợp đông đủ ở điểm hẹn rồi lục tục bước lên hai chiếc đò không mui nằm chờ sẵn với đám trạo phu có tay nghề lão luyện chèo thẳng một mạch ra khơi rồi ghép chặt song đôi với nhau, và neo vào giàn sáo cắm bên mé giữa lòng sông. Họ đủng đỉnh châm trà, vừa uống vừa tán gẫu chuyện nhân tình thế sự, chờ tới lúc nửa khuya, khi mà không gian trở nên tĩnh lặng không còn bị khuấy động bởi tiếng sanh gõ nhịp của nhóm vạn chài đánh bắt cá tôm mới lễ mễ đem các món nhắm do bà nội đã gia công tỉ mẩn tỉa tót cẩn thận mấy hôm trước đặt vào chiếc mâm gỗ ở giữa khoang đò, sau đó họ ngồi xấp bàn sát cánh bên nhau, sửa soạn cho thật đúng lệ bộ rồi trang trọng cầm ly rượu sủi tăm nâng lên ngang mày, mời nhau theo nghi tục đầu tiên: chiêu một ngụm, chiêu hai ngụm rồi ngửa cổ nốc một hơi cạn ngụm cuối cùng với tiếng khà…(à) sảng khoái. Vừa ưa, chủ đò vớt từ chiếc nò đơm chú cá đối to đùng đang quẩy cựa lung tung, chỉ trong nháy mắt làm sạch lòng ruột, bỏ vào nồi nước sôi luộc vừa chín tới, họ chất đầy tô những lát chuối non xắt mỏng cùng các loại rau ghém, khúc cá béo ngậy rồi rưới thứ nước lèo sền sệt được quết nhuyễn bằng ruột gan cá đối, đậu phụng, mè, ớt-tỏi-chanh-đường và thồn vào miệng cho hai má căng phồng, nhồm nhoàm nhai để kích thích tuyến nước bọt từ chân răng tươm ra, trung hòa với món nhắm rồi trợn mắt nuốt ực vào bụng, tận hưởng hương vị của cái thú phàm phu, ngon không chê vào đâu được.
Cứ thế, rượu bọt sóng sánh sủi tăm, món ăn có thanh có tục, câu chuyện mỗi lúc càng rôm rả ý hợp tâm đầu. Họ đi vào cuộc chơi tự nhiên như nhiên, sẵn tự bao giờ:
Tôi rót cho anh chén tím này
Biển trăng cùng uống với ta đây
Nâng lên sóng biển xô vào chén
Để xuống thì trăng lại rót đầy… (*)
Dưới ánh trăng của đêm nguyên tiêu sáng trong vằng vặc in rõ cả bầu trời-sao lung linh đáy nước cộng với làn gió mát rượi hây hây từng đợt lướt qua, đưa cuộc tiệc thăng hoa, khơi mào cho niềm vui tuôn tràn cảm hứng. Ngồi bên các cụ hầu rượu, tuy chẳng hiểu thế nào là tuý ngoạ sa trường… là thất thập cổ lai hy… gì gì đó nhưng bị lây bầu khí hào hứng sinh động của các bậc trưởng thượng, bất giác tôi cũng nhe răng cười hỉ hả.
Rồi có ai đó ngâm lên mấy vần thơ lục bát, có ai đó đem phổ giai điệu vào những câu hò mái nhì mái đẩy. Giọng ca nhừa nhựa tuy không điệu nghệ nhưng chơn chất, hết ý hết tình. Và bỗng dưng giữa bầu khí hoang liêu cô tịch, tiếng sáo vút cao trong không gian vời vợi, đưa những dòng âm ba lượn lờ theo sóng nước muôn trùng như dẫn dắt hồn người đi vào chốn bồng lai tiên cảnh…
Huyền thoại bà chúa Tơ hiện ra với dáng vẻ kiêu sa lộng lẫy trong tiếng thầm thì của nội: -Cháu biết không? Xưa kia làng mình nghèo khó lắm. Ruộng nương chẳng có, chỉ vùng đầm phá này là nơi bà con dựa vào để đánh bắt cá tôm tạm sinh sống qua ngày, nhưng muốn đánh bắt cá tôm cũng phải trả tiền thuê “mặt nước” cho hương chức của một làng khác. Nếu như không có bà chúa Tơ người con gái hiền thục họ Trần…
Tôi “Dạ…” một tiếng, nghe mỏng tanh như hơi gió thoảng, e sẽ làm tan loãng cõi linh thiêng
… -Bà rất đẹp lại nổi tiếng hiền đức, được vua yêu, sắc phong làm vương phi. Mặc dù sống trong cảnh sang giàu quyền quý, thưởng thức đủ các món sơn hào hải vị, được các nô tỳ lúc nào cũng sẵn sàng săn đón cung phụng, nhưng bà vẫn luôn canh cánh bên lòng về nơi chốn xuất thân của mình, ở đó, bà con đang bần hàn vất vả kiếm sống từng ngày. Nhân ngày mừng lễ tứ tuần, lợi dụng lúc nhà vua đang vui vẻ, bà giải bày cái tâm nguyện của mình, và xin ban cho một đặc ân, may sao, được ngài chấp thuận ngay. Bà mừng rỡ, lập tức cho người lấy dây tơ bện một cái quai chèo thật bền-chắc, rồi chọn ngày lành tháng tốt, lựa điểm xuất phát ngay giữa lòng sông, tự mình chèo ngược lên vùng thượng lưu cho tới khi kiệt hết hơi sức, quai chèo rệu toác mới thôi. Từ đấy, phía tây kêu thượng trung cừ, phía đông gọi xạ long cốt chính là phần thuỷ giới bà chúa Tơ dành tặng cho quê hương bản quán. Nhờ đó, con dân làng mình mới được an cư và lạc nghiệp. Hằng năm khỏi phải định kỳ mang khăn đóng áo dài sắm sanh lễ vật vượt đồi vượt suối cầu cạnh van xin.
… Tới đây, giọng nội tự nhiên trở nên bức thiết: “Sau này dẫu cháu có làm gì, ở tận nơi đâu cũng nên cố gắng tìm về với quê hương bản quán. Cháu phải hiểu: Cây có cội mới toả cành xanh lá - Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu - Con người ta có trước có sau - Có tiên có tổ rồi sau mới có mình. “Uống nước nhớ nguồn” là vậy đó cháu ạ”!
Người đời thường nói: -Sự gian khổ đau buồn đã trải qua thường làm cho ta nhớ mãi nhưng với riêng tôi thì những kỷ niệm về những năm tháng tuyệt diệu được ở bên ông chẳng bao giờ có thể phai mờ trong ký ức. Giờ đây, tôi ước gì có ông bên cạnh, ở ông, bao giờ tôi cũng tìm được an ủi trong những lời nói yêu thương, sự thông cảm và lòng nhân ái của người. Qua nội tôi đã học được tính cách mạnh mẽ, linh hoạt để ứng xử với đời đúng thời đúng lúc nên rất ít khi vấp ngã sót sai. Nhờ vậy mà đôi khi trên bước đường đời gặp phải những chông gai ngáng trở, tôi không cảm thấy bất hạnh chán chường mà vẫn luôn lạc quan, có đủ định lực và dũng khí vượt qua không bỏ cuộc giữa chừng. Nội không những nuôi tôi khôn lớn, dạy cho tôi biết điều nhân nghĩa mà còn biếu thêm cho tôi cả hạnh phúc lẫn ước mơ…
Năm tháng qua đi. Tôi bây giờ cũng đã bước tới cái ngưỡng của tuổi già. Chẳng biết có phải do nghiệp dĩ hay không mà tới lượt mình, tôi lại cũng lên đường hát bản du ca đi tìm miền đất mới. Cuộc sống tha hương về vật chất tuy có phần thư thả hơn nhưng cũng phải lao lung vất vả lắm mới có đủ cái ăn cái mặc chứ không hẳn là ngồi mát ăn bát vàng như người thân ở quê nhà thường lầm tưởng. Tôi vẫn tìm dịp về lại quê xưa mỗi khi có cơ hội, và một khi đã ở ngay trong lòng đất mẹ tôi mới tìm được cái cảm giác yên bình của những tháng ngày xưa cũ, thiêng liêng và gắn kết như chưa bao giờ chia lìa phân cách.
Tết năm nay không thể sắp xếp về thăm quê như mọi bận. Ở xứ người, Nguyên Đán chẳng phải là lễ chính nên không có ngày nghĩ, tôi phải chọn ngày chủ nhật gần nhất làm lễ cúng tất niên để cháu con có dịp đề huề sum họp, lưu giữ nếp xưa.
Mấy nàng dâu và cô con gái rượu của tôi xúm quanh bà xã quan sát, thấy bà chăm chút nấu nướng bày biện mâm cổ quá tươm tất thì trầm trồ:
-Ô. Mẹ khéo tay quá, tỉa tót bông hoa, đầu rồng đuôi phượng cứ y như là thật. Tụi con thiệt vụng về, chẳng biết làm một thứ gì cả.
Biết con cái tủi thân, bà xã tôi ngước đôi mắt hiền từ nhìn từng đứa dịu lời thông cảm:
-Không hẳn vậy đâu. Đời sống công nghiệp là phải rứa thôi. Đồ ăn làm sẵn chất đầy mấy cửa hàng cũng ngon chán. Tội gì phải mất thì giờ, vừa mệt vừa không được nghỉ ngơi dành sức làm việc.
Lũ cháu nội-ngoại lóc nhóc thì hùa tới túm áo hỏi tôi:
-Ông ơi! Mình mở tiệc chiêu đãi ai vậy ông?
Tôi âu yếm xoa đầu từng đứa, rồi thủng thẳng trả lời:
-Hôm nay là ngày Tết, nhà mình dọn cổ mời ông bà tiên tổ về thưởng thức đó.
Nhưng chúng vẫn thắc mắc:
-Xa vậy làm sao ông bà tới đây được?
Câu hỏi ngây thơ của đứa cháu hiếu động làm tôi chững đi giây lát.
-“Ừ, ông bà mình trước giờ toàn đi chân đất, chỉ loanh quanh trong mấy lũy tre làng, liệu có biết đường qua đây sum vầy với con cháu không nhỉ”.
Đang loay hoay suy nghĩ chưa biết trả lời sao cho thỏa đáng với thằng cháu đích tôn thì đúng lúc, tiếng bà xã từ nhà bếp vọng lên, báo cổ bàn đã chuẩn bị xong xuôi giúp tôi tránh được câu hỏi “khó” của bọn trẻ liền đứng dậy, chỉ bày cho mấy cậu con trai sắp đặt cổ bàn đâu đó rồi từ tốn bước tới trước bàn thờ đốt mấy nén nhang, lâm râm khấn vái. Mùi trầm hương nồng đậm, nghi ngút tỏa lan khắp nhà nghe thật ấm Và bỗng dưng, cõi hữu hình và vô hình như đan quyện vào nhau. Quá khứ, hiện tại, tương lai như cùng lúc hiện diện. Trên bàn thờ tuy chẳng có tấm hình ai cả, bởi thời các cụ, tiệm chụp hình còn là của hiếm, nhưng nhìn lên, tôi thấy tất cả những người thân yêu đã mất như đang trở về sum họp đề huề giữa đám con cháu miền xa. Thời gian đã trở thành vô nghĩa. Tôi như đang là thằng bé loắt choắt bám sau đít ông nội ngày nào, chực chờ Người sai phái bảo ban…

Nguyên Đạt

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

 GIỌT GHI-TA

Giọt ghi ta rơi trong đêm
Mùa xuân, phòng người trinh nữ
Thức dậy một loài hoa dại
Hương xưa hình như đâu đây?

Giọt ghi ta chảy vào hồn
Huơng hoa quỳnh thơm nổi nhớ
Mùa cũ, đàn chim di trú
Mưa về rũ bóng hoàng hôn

Giọt ghi ta chẻ tim em
Nửa hồn gửi theo mây gió
Nửa ở lại với hương đêm

-1992-
Nguyễn Châu Niên