Sáng mồng một tết, anh em Lâm dậy thật sớm ăn mặc chỉnh tề, chuẩn bị mừng tuổi bà nội và thăm thú họ hàng nhưng chẳng thấy đâu, tìm mãi mới bắt gặp bà đang ngồi bên một gốc cây mai già cạnh hòn non bộ tận cuối vườn. Bà ngồi đó, tấm lưng hơi còng xuống bởi gánh nặng của thời gian, đôi mắt mờ đục thẫn thờ dõi về cõi xa xăm, trầm ngâm suy tưởng. Trong khoảnh khắc không gian và thời gian ấy, cậu mới chợt nhận ra, cứ mỗi mùa xuân đi qua, khi mà cháu con được tăng thêm một tuổi thì đồng thời bà cũng già đi thêm một tuổi, và như thế, cái ngày bà cháu Lâm xa nhau lại càng rút ngắn lại dần. Bỗng dưng lòng cậu như nghẹn lại; mắt rưng lệ nhìn bà với một trời thương nhớ mênh mang…Có đúng là mừng không khi tuổi bà đã xế bóng về chiều, sức khoẻ mỗi ngày mỗi thêm cạn kiệt?!
*
… Hồi nhỏ mỗi khi có ai hỏi: “Cu Lâm thương ai nhất nhà?”, bao giờ cậu cũng chăm bẵm trả lời: “Thương bà nội nhất nhà”. Chả là ngay từ lúc ba bốn tuổi đầu Lâm đã được một mình bà ẵm bồng chăm sóc và cho ngủ chung đến quen hơi bén tiếng hơn cả bố mẹ. Sáng nào Lâm cũng bị bà cốc nhẹ một cái lên đầu kèm theo lời mắng yêu: -Mồ tổ mày! Giống bố hồi nhỏ như đúc, cứ nửa đêm là quay đầu lộn ngược, quẫy đạp lung tung. Bà có mà nhừ xương với mày
Nội sống giản dị, chẳng đòi hỏi gì nhiều cho bản thân, duy có cái bệnh ghiền trầu là không bỏ được. Hằng ngày, bà ngồi trước cổng bệnh viện với tủ thuốc lá, vài chai nước khoáng bán cho khách vãng lai gọi là để kiếm đồng ra đồng vào. Bố mẹ tỏ vẻ không bằng lòng, sợ người ta cười con cái không nuôi nổi bà, thường khuyên ngăn:
-Má làm chi vậy cho khổ thân. Số tiền trợ cấp tuổi già cũng đủ cho má chi tiêu, nếu thiếu hụt để tụi con bù đắp thêm. Chứ...
Nhưng bà nội từ tốn nói:
-Má còn khoẻ chán, hãy để má lấy công việc làm vui, khi nào lụm cụm hẵng hay.
Căn phòng bà nội nằm ở dãy nhà dưới cùng, cũng khá rộng rãi nhưng chứa đủ thứ vật dụng lỉnh kỉnh cố luỹ cố lai từ đời nào, lại thêm giường tủ, sập gụ nằm ườn ra khắp lối nên trông rất bừa bộn. Thỉnh thoảng bố ghé qua đứng nhìn một đỗi, rồi chắt lưỡi: “Dẹp bớt đi má à!” thì nội lặng thinh chẳng nói rằng nhưng chắc là giận bố. Một lần, nhân lúc bà vắng nhà, ông gọi mấy người buôn phế liệu tới, chưa kịp thấy các mặt hàng ngang dọc thế nào đã bị bà bắt gặp, mắng cho một trận te tua đành rút êm. Đó là lần đầu tiên trong đời, Lâm thấy nội có thái độ giận dữ như thế. Bình thường bà nói năng bằng cái giọng Huế nhỏ nhẹ, luôn luôn đối xử hoà ái với tất cả mọi người, nào có mất lòng ai đâu.
Tối hôm đó, nội kéo Lâm ngồi bên thủ thỉ: -Cháu à! Phàm ở đời ăn ở phải có thuỷ có chung chứ đừng có mới mà nới cũ. Những đồ vật này bây giờ tuy ít người chuộng, nhưng đi mua chắc gì có? Với lại, đây là những kỷ vật từ thuở hàn vi, ông bà phải tích cóp, làm lụng hết sức mình mới có được. Cháu biết không, đã nhiều lần cả nhà phải đau từng hạt gạo, đắng từng bát cơm để bố cháu và chú Ba có điều kiện ăn học nên người đó, mình phải trân trọng mới phải chứ”. Đang nói bỗng nhiên bà trở dậy bước tới kéo chiếc hòm cũ rích từ dưới chân giường, mở khoá, lôi ra những món đồ nho nhỏ xinh xinh trông rất lạ mắt bày cả lên bàn. Nào là bộ ấm chén bằng men sứ sặc sỡ, nào là những chiếc ống điếu hình thù dị dạng. Đặc biệt có bốn bức tượng làm bằng gỗ mun đen thui; một người thì râu dài quá rốn, một người cầm búa, người cầm chiếc cần câu dài ngoằng kèm theo chiếc giỏ sau lưng mà bà kêu bằng Ngư-Tiều-Canh-Độc gì gì đó trông thiệt ngộ. Thích nhất là ống sáo màu ngà chạm khắc hình con rồng bóng lộn y như thật. Thấy Lâm cứ cầm ống sáo trên tay săm soi hoài như không muốn rời, bà mỉm cười nói: “Đây là kỷ vật bất ly thân của ông nội cháu hồi còn trai trẻ đó”. Bà thở dài, đưa mắt nhìn xa xăm, mơ màng như nhớ tiếc cái thời đã qua...
*
Từ ngày ông mất, bà nội ít nói hẳn đi và thường hay ngồi trầm ngâm suy tưởng như thế; biết nội buồn nhưng Lâm vẫn chưa tìm ra được phương cách gì cho người khuây khoả. Chỉ có Út Hương đôi khi mới cạy được miệng bà bằng những câu hỏi ngây ngô, tào lao tứ đế không đầu không đuôi mà thôi. Bà vẫn giữ nếp cũ, dậy rất sớm, nấu nước pha trà, rót ra một ly để riêng, miệng lẩm bẩm gì đó, Lâm đoán bà mời ông uống nước, bởi lúc ông còn sống, hai người thường có thói quen ngồi đối ẩm với nhau. Trước mỗi bữa ăn, bao giờ bà cũng bới một chén để riêng rồi đặt đôi đũa lên trên, thì thầm: “Ăn đi ông”. -Út Hương thụt vai lè lưỡi: -Eo ơi! Ông nội chết rồi sao thứ gì bà cũng mời ông ăn vậy? -Bà cười hiền lành: “Tại cháu không hiểu đó thôi, người chết chỉ khác người sống ở chỗ không còn hình dạng nhưng tình cảm thì vẫn còn tồn tại như hồi còn sống đấy cháu ạ”.Bà nội có tính thương người; hồi còn ăn nên làm ra, mỗi lần tát đìa bắt cá hay làm heo xẻ thịt, chỉ cần hai hay ba công là đủ, nhưng bà kêu hết những người đang gặp khó khăn đến phụ. Bà nói: “Đó là dịp để chia sớt cho người ta chút cơm ăn áo mặc, chứ mình cầm tiền cho chắc gì họ dám lấy mà mình còn bị mang tiếng làm phách”. Mùa cắt lúa, bà nấu xôi cho thợ lúc nào cũng thừa để quà cho con nít nó mừng, ăn đỡ đói trong lúc chờ ba má nấu cơm. Hàng xóm thường nói vui: “tính nội rộng rãi như vậy nên khó giàu”. Bà cười: -Kệ. Ở có đức mặc sức mà ăn, nhưng một mặt khác, đối với nội, bát cơm, hạt gạo là vô cùng quý giá, bà không cho đổ bỏ cơm thừa, không hấp chiên lại thì cũng phơi khô, đem rang dòn rồi ngào với đường thành một loại cốm dòn dòn, thơm thơm ăn chơi rất ngon. Mỗi khi nhà có tiệc tùng, bà thường nhặt nhạnh, gom lại đem hâm nóng rồi lui cui bưng đi chia sớt với bà con lối xóm côi cút neo đơn, bố mẹ e ngại lên tiếng can ngăn, bà cười giả lả: “Không sao. Má có cách xử sự mà”. Nhà có quần áo cũ, bà không cho xé làm giẻ lau mà gói lại cẩn thận rồi gởi về ngoài quê: -Cho người ta mặc đi làm ruộng, ở quê bao giờ cũng thiếu thốn cực khổ hơn mình.
Một buổi trưa đi làm về, mẹ tự nhiên ngồi thừ một chỗ, chẳng nói chẳng rằng, cả nhà mời thế nào cũng chẳng chịu ăn cơm. Bố lại gần hỏi:
-Sao vậy? Muốn bệnh rồi hả?
Mẹ dấm dẳng trả lời:
-Cũng đâu đó. Rồi tiếp: -Thật bực cả mình. Không bệnh cũng muốn bệnh luôn.
Bố giục:
-Có chuyện gì nói đại đi, úp mở thế ai mà hiểu cho được.
Bấy giờ mẹ mới nói:
-Em chẳng biết phải xử sự ra sao nữa. Sớm mai nhân ngày Quốc tế những người cao tuổi, bệnh viện mời tất cả các cụ ông cụ bà đến dự buổi họp mặt chúc thọ. Nhà mình...!
-Vậy có gì đâu! Sắm cho mẹ bộ đồ mới đưa đến dự là...
-Xì! Đâu có đơn giản thế? -Mẹ ngúng nguẩy ngắt lời: -Anh qua bệnh viện mà nghe người ta bàn tán, nhức cả đầu. Đã bảo cứ ở nhà cho con cháu nó lo. Vậy mà để bây giờ...!
Bố suýt nổi nóng:
-Thì bán thuốc lá có gì phải xấu hổ nào? -Nhưng rồi ông lập tức đấu dịu: -Thôi. Để tối nay mình liệu lời nói khéo cho bà nghỉ luôn; còn chuyện kia thì em cứ khai đại là má bị bệnh cho qua chuyện. Thiên hạ hơi đâu cứ xì xào bàn tán hoài.
Xem ra cách dàn xếp như vậy cũng tạm ổn, mẹ như cảm thấy nguôi nguôi nhưng vẫn tiếp: -Sẵn đây tôi cũng nói luôn, còn đống đồ trong phòng bà nội sao không tống tháo đi cho rộng nhà rộng cửa?
-Thì em cũng phải tâm lý một chút chứ! -Bố dịu giọng khổ sở: -Cơ ngơi này là do các cụ dựng nên, người già ai cũng muốn giữ lại mọi thứ, mình phận cháu con cũng phải biết chiều ý một chút cho bà vui mới phải lẽ chứ!
-Nhưng còn... còn con chó già kia thì bao giờ ông mới... giải quyết hử?
Túng thế, bố đành trả lời xuôi xị:
-Được rồi! A-lê-hấp... Xong ngay.
*
Chú chó Bông biến mất, bà nội hoảng hốt, đau đớn và tiếc thương khôn xiết, ba bốn ngày liền bà đôn đáo chạy đi dò hỏi khắp xóm vẫn vô hiệu, và khi biết chẳng còn hy vọng gì nữa, bà buồn khổ và già sụm hẳn đi, công việc bán buôn bà cũng bỏ cả không thiết, suốt ngày cứ ngồi hằng giờ chăm chăm nhìn vào cái ổ ngày xưa của nó. Bề ngoài, nội cố tỏ ra thản nhiên nhưng anh em Lâm biết sâu thẳm trong lòng, bà tiếc và nhớ chú chó Bông ghê lắm. Nó không chỉ là con vật nuôi thân thuộc trong nhà mà còn hơn thế nữa, bởi nó là cái gạch nối tình cảm, là kỷ niệm sống động duy nhứt mà ông nội gửi gắm lại cho bà. Mất nó, bà như mất đi người bạn thuỷ chung tình nghĩa suốt quãng đời còn lại.
Bố mẹ thi mải lu bu công việc làm ăn không có thời giờ gần gũi chăm sóc và trò chuyện, nên dường như chẳng thấy chút gì về sự thay đổi tâm tư tình cảm lẫn thái độ của bà. Cho đến một ngày...
Hôm ấy được nghỉ sớm hai tiết cuối, Lâm xăng xái về nhà. Bầu không khí vắng lặng khác thường làm cho cậu ngạc nhiên; mọi khi mới bước vào cửa đã thấy bà nội lui cui dọn quén, vậy mà hôm nay…? Một dự cảm bất tường bất chợt dấy lên trong tâm trí khiến Lâm đưa mắt nhìn quanh lo lắng, rồi chợt phát hiện một bức thư để ngỏ trên bàn học liền hối hả bước tới cầm lên đọc, xong, lập tức chạy bổ đi tìm bố mẹ. Thư viết: “Má thấy đã đến lúc nên quay về quê hương bản quán để được yên nghỉ với ông bà tổ tiên ở đó. Vợ chồng con Út làm nương phát rẫy bấy lâu nay, bây giờ đời sống cũng tạm ổn định, có thể bảo đảm cho má sống những ngày còn lại, khỏi phải luỵ phiền con cháu. À! Nội có để lại cho thằng cháu cưng của nội món quà Tết như đã hứa trong rương đó. Cháu của bà cố gắng học hành giỏi dang để sau này làm rạng mặt tông đường nhé. Chúc cả nhà bằng an. Đừng buồn”.
Cầm cuốn sổ tiết kiệm khoảng chục triệu đồng, công lao ky cóp hơn mười lăm năm từ tủ thuốc lá của bà, mắt Lâm nhoà lệ. Cả nhà đưa mắt nhìn nhau ngỡ ngàng hụt hẫng, không ai có thể ngờ cái khoảng trống bà để lại nó lớn lao đến thế. Rồi bỗng nhiên không ai bảo ai, tất cả mọi người nhoáng nhoàng kéo nhau đâm bổ lên ga xe lửa...
Nội kia rồi! Tiếng còi tàu âm vang thê thiết đã hú lên một hồi dài giục giã nhưng dường như bà nội vẫn chần chờ chưa muốn bước lên bực cửa.
-Má! Má ơi! Má đừng đi. Tha lỗi… Tha lỗi cho con má… má nhé!
Mẹ nước mắt chảy ứa ròng ròng, bước thấp bước cao chạy ào tới sụp xuống ôm chân bà nội: -Con...! Con thật có điều không phải với má Con biết lỗi rồi. Xin má bỏ qúa, bỏ quá cho con. Má nhé. Má nhé!
Bố đứng sững, lóng ngóng hết nhìn bà nội tới nhìn vợ chẳng biết làm gì. Còn Lâm và Út Hương, nước mắt nước mũi chàm ngoàm nhưng miệng thì nhe ra cười hỉ hả...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét