Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2011

MÙA XUÂN CỦA NỘI -Truyện ngắn-Nguyên Đạt

Sáng mồng một tết, anh em Lâm dậy thật sớm ăn mặc chỉnh tề, chuẩn bị mừng tuổi bà nội và thăm thú họ hàng nhưng chẳng thấy đâu, tìm mãi mới bắt gặp bà đang ngồi bên một gốc cây mai già cạnh hòn non bộ tận cuối vườn. Bà ngồi đó, tấm lưng hơi còng xuống bởi gánh nặng của thời gian, đôi mắt mờ đục thẫn thờ dõi về cõi xa xăm, trầm ngâm suy tưởng. Trong khoảnh khắc không gian và thời gian ấy, cậu mới chợt nhận ra, cứ mỗi mùa xuân đi qua, khi mà cháu con được tăng thêm một tuổi thì đồng thời bà cũng già đi thêm một tuổi, và như thế, cái ngày bà cháu Lâm xa nhau lại càng rút ngắn lại dần. Bỗng dưng lòng cậu như nghẹn lại; mắt rưng lệ nhìn bà với một trời thương nhớ mênh mang…
Có đúng là mừng không khi tuổi bà đã xế bóng về chiều, sức khoẻ mỗi ngày mỗi thêm cạn kiệt?!
*
… Hồi nhỏ mỗi khi có ai hỏi: “Cu Lâm thương ai nhất nhà?”, bao giờ cậu cũng chăm bẵm trả lời: “Thương bà nội nhất nhà”. Chả là ngay từ lúc ba bốn tuổi đầu Lâm đã được một mình bà ẵm bồng chăm sóc và cho ngủ chung đến quen hơi bén tiếng hơn cả bố mẹ. Sáng nào Lâm cũng bị bà cốc nhẹ một cái lên đầu kèm theo lời mắng yêu: -Mồ tổ mày! Giống bố hồi nhỏ như đúc, cứ nửa đêm là quay đầu lộn ngược, quẫy đạp lung tung. Bà có mà nhừ xương với mày
Nội sống giản dị, chẳng đòi hỏi gì nhiều cho bản thân, duy có cái bệnh ghiền trầu là không bỏ được. Hằng ngày, bà ngồi trước cổng bệnh viện với tủ thuốc lá, vài chai nước khoáng bán cho khách vãng lai gọi là để kiếm đồng ra đồng vào. Bố mẹ tỏ vẻ không bằng lòng, sợ người ta cười con cái không nuôi nổi bà, thường khuyên ngăn:
-Má làm chi vậy cho khổ thân. Số tiền trợ cấp tuổi già cũng đủ cho má chi tiêu, nếu thiếu hụt để tụi con bù đắp thêm. Chứ...
Nhưng bà nội từ tốn nói:
-Má còn khoẻ chán, hãy để má lấy công việc làm vui, khi nào lụm cụm hẵng hay.
Căn phòng bà nội nằm ở dãy nhà dưới cùng, cũng khá rộng rãi nhưng chứa đủ thứ vật dụng lỉnh kỉnh cố luỹ cố lai từ đời nào, lại thêm giường tủ, sập gụ nằm ườn ra khắp lối nên trông rất bừa bộn. Thỉnh thoảng bố ghé qua đứng nhìn một đỗi, rồi chắt lưỡi: “Dẹp bớt đi má à!” thì nội lặng thinh chẳng nói rằng nhưng chắc là giận bố. Một lần, nhân lúc bà vắng nhà, ông gọi mấy người buôn phế liệu tới, chưa kịp thấy các mặt hàng ngang dọc thế nào đã bị bà bắt gặp, mắng cho một trận te tua đành rút êm. Đó là lần đầu tiên trong đời, Lâm thấy nội có thái độ giận dữ như thế. Bình thường bà nói năng bằng cái giọng Huế nhỏ nhẹ, luôn luôn đối xử hoà ái với tất cả mọi người, nào có mất lòng ai đâu.
Tối hôm đó, nội kéo Lâm ngồi bên thủ thỉ: -Cháu à! Phàm ở đời ăn ở phải có thuỷ có chung chứ đừng có mới mà nới cũ. Những đồ vật này bây giờ tuy ít người chuộng, nhưng đi mua chắc gì có? Với lại, đây là những kỷ vật từ thuở hàn vi, ông bà phải tích cóp, làm lụng hết sức mình mới có được. Cháu biết không, đã nhiều lần cả nhà phải đau từng hạt gạo, đắng từng bát cơm để bố cháu và chú Ba có điều kiện ăn học nên người đó, mình phải trân trọng mới phải chứ”. Đang nói bỗng nhiên bà trở dậy bước tới kéo chiếc hòm cũ rích từ dưới chân giường, mở khoá, lôi ra những món đồ nho nhỏ xinh xinh trông rất lạ mắt bày cả lên bàn. Nào là bộ ấm chén bằng men sứ sặc sỡ, nào là những chiếc ống điếu hình thù dị dạng. Đặc biệt có bốn bức tượng làm bằng gỗ mun đen thui; một người thì râu dài quá rốn, một người cầm búa, người cầm chiếc cần câu dài ngoằng kèm theo chiếc giỏ sau lưng mà bà kêu bằng Ngư-Tiều-Canh-Độc gì gì đó trông thiệt ngộ. Thích nhất là ống sáo màu ngà chạm khắc hình con rồng bóng lộn y như thật. Thấy Lâm cứ cầm ống sáo trên tay săm soi hoài như không muốn rời, bà mỉm cười nói: “Đây là kỷ vật bất ly thân của ông nội cháu hồi còn trai trẻ đó”. Bà thở dài, đưa mắt nhìn xa xăm, mơ màng như nhớ tiếc cái thời đã qua...
*
Từ ngày ông mất, bà nội ít nói hẳn đi và thường hay ngồi trầm ngâm suy tưởng như thế; biết nội buồn nhưng Lâm vẫn chưa tìm ra được phương cách gì cho người khuây khoả. Chỉ có Út Hương đôi khi mới cạy được miệng bà bằng những câu hỏi ngây ngô, tào lao tứ đế không đầu không đuôi mà thôi. Bà vẫn giữ nếp cũ, dậy rất sớm, nấu nước pha trà, rót ra một ly để riêng, miệng lẩm bẩm gì đó, Lâm đoán bà mời ông uống nước, bởi lúc ông còn sống, hai người thường có thói quen ngồi đối ẩm với nhau. Trước mỗi bữa ăn, bao giờ bà cũng bới một chén để riêng rồi đặt đôi đũa lên trên, thì thầm: “Ăn đi ông”. -Út Hương thụt vai lè lưỡi: -Eo ơi! Ông nội chết rồi sao thứ gì bà cũng mời ông ăn vậy? -Bà cười hiền lành: “Tại cháu không hiểu đó thôi, người chết chỉ khác người sống ở chỗ không còn hình dạng nhưng tình cảm thì vẫn còn tồn tại như hồi còn sống đấy cháu ạ”.
Bà nội có tính thương người; hồi còn ăn nên làm ra, mỗi lần tát đìa bắt cá hay làm heo xẻ thịt, chỉ cần hai hay ba công là đủ, nhưng bà kêu hết những người đang gặp khó khăn đến phụ. Bà nói: “Đó là dịp để chia sớt cho người ta chút cơm ăn áo mặc, chứ mình cầm tiền cho chắc gì họ dám lấy mà mình còn bị mang tiếng làm phách”. Mùa cắt lúa, bà nấu xôi cho thợ lúc nào cũng thừa để quà cho con nít nó mừng, ăn đỡ đói trong lúc chờ ba má nấu cơm. Hàng xóm thường nói vui: “tính nội rộng rãi như vậy nên khó giàu”. Bà cười: -Kệ. Ở có đức mặc sức mà ăn, nhưng một mặt khác, đối với nội, bát cơm, hạt gạo là vô cùng quý giá, bà không cho đổ bỏ cơm thừa, không hấp chiên lại thì cũng phơi khô, đem rang dòn rồi ngào với đường thành một loại cốm dòn dòn, thơm thơm ăn chơi rất ngon. Mỗi khi nhà có tiệc tùng, bà thường nhặt nhạnh, gom lại đem hâm nóng rồi lui cui bưng đi chia sớt với bà con lối xóm côi cút neo đơn, bố mẹ e ngại lên tiếng can ngăn, bà cười giả lả: “Không sao. Má có cách xử sự mà”. Nhà có quần áo cũ, bà không cho xé làm giẻ lau mà gói lại cẩn thận rồi gởi về ngoài quê: -Cho người ta mặc đi làm ruộng, ở quê bao giờ cũng thiếu thốn cực khổ hơn mình.
Một buổi trưa đi làm về, mẹ tự nhiên ngồi thừ một chỗ, chẳng nói chẳng rằng, cả nhà mời thế nào cũng chẳng chịu ăn cơm. Bố lại gần hỏi:
-Sao vậy? Muốn bệnh rồi hả?
Mẹ dấm dẳng trả lời:
-Cũng đâu đó. Rồi tiếp: -Thật bực cả mình. Không bệnh cũng muốn bệnh luôn.
Bố giục:
-Có chuyện gì nói đại đi, úp mở thế ai mà hiểu cho được.
Bấy giờ mẹ mới nói:
-Em chẳng biết phải xử sự ra sao nữa. Sớm mai nhân ngày Quốc tế những người cao tuổi, bệnh viện mời tất cả các cụ ông cụ bà đến dự buổi họp mặt chúc thọ. Nhà mình...!
-Vậy có gì đâu! Sắm cho mẹ bộ đồ mới đưa đến dự là...
-Xì! Đâu có đơn giản thế? -Mẹ ngúng nguẩy ngắt lời: -Anh qua bệnh viện mà nghe người ta bàn tán, nhức cả đầu. Đã bảo cứ ở nhà cho con cháu nó lo. Vậy mà để bây giờ...!
Bố suýt nổi nóng:
-Thì bán thuốc lá có gì phải xấu hổ nào? -Nhưng rồi ông lập tức đấu dịu: -Thôi. Để tối nay mình liệu lời nói khéo cho bà nghỉ luôn; còn chuyện kia thì em cứ khai đại là má bị bệnh cho qua chuyện. Thiên hạ hơi đâu cứ xì xào bàn tán hoài.
Xem ra cách dàn xếp như vậy cũng tạm ổn, mẹ như cảm thấy nguôi nguôi nhưng vẫn tiếp: -Sẵn đây tôi cũng nói luôn, còn đống đồ trong phòng bà nội sao không tống tháo đi cho rộng nhà rộng cửa?
-Thì em cũng phải tâm lý một chút chứ! -Bố dịu giọng khổ sở: -Cơ ngơi này là do các cụ dựng nên, người già ai cũng muốn giữ lại mọi thứ, mình phận cháu con cũng phải biết chiều ý một chút cho bà vui mới phải lẽ chứ!
-Nhưng còn... còn con chó già kia thì bao giờ ông mới... giải quyết hử?
Túng thế, bố đành trả lời xuôi xị:
-Được rồi! A-lê-hấp... Xong ngay.

*
Chú chó Bông biến mất, bà nội hoảng hốt, đau đớn và tiếc thương khôn xiết, ba bốn ngày liền bà đôn đáo chạy đi dò hỏi khắp xóm vẫn vô hiệu, và khi biết chẳng còn hy vọng gì nữa, bà buồn khổ và già sụm hẳn đi, công việc bán buôn bà cũng bỏ cả không thiết, suốt ngày cứ ngồi hằng giờ chăm chăm nhìn vào cái ổ ngày xưa của nó. Bề ngoài, nội cố tỏ ra thản nhiên nhưng anh em Lâm biết sâu thẳm trong lòng, bà tiếc và nhớ chú chó Bông ghê lắm. Nó không chỉ là con vật nuôi thân thuộc trong nhà mà còn hơn thế nữa, bởi nó là cái gạch nối tình cảm, là kỷ niệm sống động duy nhứt mà ông nội gửi gắm lại cho bà. Mất nó, bà như mất đi người bạn thuỷ chung tình nghĩa suốt quãng đời còn lại.
Bố mẹ thi mải lu bu công việc làm ăn không có thời giờ gần gũi chăm sóc và trò chuyện, nên dường như chẳng thấy chút gì về sự thay đổi tâm tư tình cảm lẫn thái độ của bà. Cho đến một ngày...
Hôm ấy được nghỉ sớm hai tiết cuối, Lâm xăng xái về nhà. Bầu không khí vắng lặng khác thường làm cho cậu ngạc nhiên; mọi khi mới bước vào cửa đã thấy bà nội lui cui dọn quén, vậy mà hôm nay…? Một dự cảm bất tường bất chợt dấy lên trong tâm trí khiến Lâm đưa mắt nhìn quanh lo lắng, rồi chợt phát hiện một bức thư để ngỏ trên bàn học liền hối hả bước tới cầm lên đọc, xong, lập tức chạy bổ đi tìm bố mẹ. Thư viết: “Má thấy đã đến lúc nên quay về quê hương bản quán để được yên nghỉ với ông bà tổ tiên ở đó. Vợ chồng con Út làm nương phát rẫy bấy lâu nay, bây giờ đời sống cũng tạm ổn định, có thể bảo đảm cho má sống những ngày còn lại, khỏi phải luỵ phiền con cháu. À! Nội có để lại cho thằng cháu cưng của nội món quà Tết như đã hứa trong rương đó. Cháu của bà cố gắng học hành giỏi dang để sau này làm rạng mặt tông đường nhé. Chúc cả nhà bằng an. Đừng buồn”.
Cầm cuốn sổ tiết kiệm khoảng chục triệu đồng, công lao ky cóp hơn mười lăm năm từ tủ thuốc lá của bà, mắt Lâm nhoà lệ. Cả nhà đưa mắt nhìn nhau ngỡ ngàng hụt hẫng, không ai có thể ngờ cái khoảng trống bà để lại nó lớn lao đến thế. Rồi bỗng nhiên không ai bảo ai, tất cả mọi người nhoáng nhoàng kéo nhau đâm bổ lên ga xe lửa...
Nội kia rồi! Tiếng còi tàu âm vang thê thiết đã hú lên một hồi dài giục giã nhưng dường như bà nội vẫn chần chờ chưa muốn bước lên bực cửa.
-Má! Má ơi! Má đừng đi. Tha lỗi… Tha lỗi cho con má… má nhé!
Mẹ nước mắt chảy ứa ròng ròng, bước thấp bước cao chạy ào tới sụp xuống ôm chân bà nội: -Con...! Con thật có điều không phải với má Con biết lỗi rồi. Xin má bỏ qúa, bỏ quá cho con. Má nhé. Má nhé!
Bố đứng sững, lóng ngóng hết nhìn bà nội tới nhìn vợ chẳng biết làm gì. Còn Lâm và Út Hương, nước mắt nước mũi chàm ngoàm nhưng miệng thì nhe ra cười hỉ hả...


Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

THƠ XUÂN - Nguyên Đạt


XUÂN GỌI

Nhịp nhàng trên đôi cánh vỗ
Bầy chim thiêng trở về nhà
Rừng xưa trở mình thay lá
Rộn ràng muôn tiếng hoan ca

Ước mơ bao ngày bỏ ngỏ
Được làn gió mới hồi sinh
Áo xuân khoe màu rực rỡ
Ngập tràn hoa nắng lung linh

Nụ hôn giao hòa thế kỷ
Nối vòng tay lớn yêu thương
Ngọt ngào lời ca dao mẹ
Xuôi về nguồn suối thủy chung

Đã qua một thời mông muội
Quê nhà đón ánh bình minh
Giọt sương thấm tình hương lúa
Mùa vui cây trái thơm lành



HƯƠNG XUÂN


Ta về với gió mùa xuân
Mang theo giọt nắng phiêu bồng phương xa
Xua đi sương giá quê nhà
Đốt lên ngọn lửa thiết tha ấm nồng

Ta về theo gió mùa xuân
Tay ôm giọt nắng ươm hồng ước mơ
Tương lai là một bài thơ
Khơi xanh mạch sống chan hòa yêu thương

Ta về mang đóa quỳnh hương
Gọi tên nỗi nhớ gọi nguồn trăm năm

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

TÂM TÌNH NGÀY HỘI - Bảo Thắng K5

NIỀM VUI HỌP MẶT

Lái xe chạy lòng vòng suốt một tiếng đồng hồ mà Nga và Thắng vẫn chưa tìm ra địa điểm họp mặt. Cả hai đứa càng cảm thấy sốt ruột hơn khi nhìn đồng hồ thấy chiếc kim ngắn đã nhích lần vào con số 2; chỉ còn khoảng 15 phút nữa thôi là tới giờ khai mạc, vậy mà…
-Quả là khùng…! Nga vừa cười vừa nói: “Thôi khỏi họp, mình tấp xe vào đâu đó, lấy đồ ra ăn rồi về. Chà! Nếu có tìm ra mà vào trễ thì cũng kỳ”.
-Nhưng… Thắng đùa: “Nhưng, nếu người ta bầu bán Ban chấp hành xong xuôi thì mình khỏe re…” Cả hai cười thoải mái, tạm quên nỗi bực bỏ.
Sau đó cuối cùng rồi cũng tìm ra chỗ họp Sư phạm Qui Nhơn bắc Ca-Li. Thoạt đầu mình thấy bỡ ngỡ, tự hỏi: Không biết có hội đoàn nào họp nữa đây, sao có cờ xí rộn ràng và người đông đúc thế. Té ra đó là đoàn SPQN Băc Ca-Li và thân hữu. Tự nhiên mình thấy vui lạ. Không ngờ ở Bắc Ca Li mà có quá nhiều SPQN thế. Ở đây đã hơn mười lăm năm mà lui tới chỉ biết có khóa 5; vài tháng họp mặt một lần cũng vui. Giờ đây thấy đông đủ từ khóa 1 tới khóa 13. “Ui chao! Vui quá sá là vui”.
Bước vào phòng họp đã thấy trang hoàng bày biện có vẻ trịnh trọng như một buổi họp có quy mô. Sơ ngộ mà cũng xôm tụ hè. Cám ơn anh Nga, chồng chị Thục Khóa 3. Rễ mà có lòng quá ta. Hèn chi chị Thục yêu say đắm từ thời còn đi học. Nói chơi vậy, chị Thục đừng giận nhe!
Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, dù sơ ngộ nhưng cũng có một số anh chị quen, đồng hương mà lị.
Hôm đó cũng có rất nhiều rễ Sư phạm Qui Nhơn, anh nào cũng hăng say góp ý và mong muốn cuộc họp thành công mỹ mãn. Tất cả anh chị em Sư phạm Qui nhơn từ khóa 1 đến 13 ai cũng đều vui, sẵn sàng, cởi mở không khí phòng họp đầy ắp tình cảm thân thương. Tự nhiên lòng mình ấm lại. Nơi đất khách quê người, tuổi già ta vẫn còn có nhau, một chút tình người, tình bạn, tình đồng hương, đồng môn…vv… Tự nhiên, tôi muốn ứa nước mắt mừng mừng tủi tủi, và dường như thấy lại ngôi trường Sư phạm Qui Nhơn hiện ra với nỗi niềm hân hoan của thuở còn đi học. Ôii chao! Anh chị nào cũng tươi tắn rạng rỡ, nói cười râm ra cả phòng họp.
Sau lời giới thiệu của anh Nga chồng chị Thục, tất cả đã đồng ý đi vào chương trình buổi họp. Mở đầu là lời phát biểu của niên trưởng Nguyễn Cao Can, anh Tôn Thất Cầm, cả hai đều khóa 1, tiếp đến là các đồng môn và thân hữu. Tất cả ý kiến đóng góp đều rất chân tình, thiết thực; sau một hồi bàn thảo, bầu bán thì Hội Cựu Giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn Bắc Ca-Li đã hình thành Ban chấp hành của nhiệm kỳ I là hai năm trong tình huynh đệ, đoàn kết yêu thương để mong hội ngày càng hoạt động sôi nổi. Thật tình cảm và xúc động khi đã được gặp nhau quá đông đủ ở nơi này..
Sau cùng là liên hoan-văn nghệ vui quá phải không các bạn?

*Ghi lại vài cảm xúc chân thành của một cựu giáo sinh nhân ngày họp mặt sơ ngộ ngày 03/10/2010

GẶP LẠI

Một phút gặp nhau đã nhớ đời
Muôn phương hội ngộ thiệt đông vui
Liên hoan mở tiệc chúc mừng bạn
Gặp gỡ tình già vẫn sắt son

Mai này xa cách trong tâm tưởng
Vẫn nhớ nhau hoài Diệp cố hương
Thắng cảnh mùa thu êm dịu lại
Dạt dào âm điệu trải cùng sương

Hà Sơn cố quận tìm nhau mãi
Vẫn dải ngân hà ta bắc ngang
Mừng mừng tủi tủi rơi ngấn lệ
Giao cảm một thời tuổi trẻ qua

Chanh vanh một nửa chân trời lạ
Núi Ấn sông Trà vĩnh biệt nhau
Nắng ấm tình người thêm sức sống
Vui chơi cho thỏa dạ chờ mong

Bê ơi cầm sẵn tay nâng chén
Giới thiệu bạn vàng với muôn nơi
Cúc vẫn chờ Hoa mùa xuân đến
Nga mi họa nhạc trổ tài xa

Hòa thành âm điệu vang xa mãi
Hỡi bạn tình ta vui thật nhiều
Có về quê cũ thì xin nhớ
Bạn hữu phương xa sẵn đón mời

Bảo Thắng K5

Viết tặng Đặng T. Diệp K5 nhân chuyến du lịch Hoa Kỳ gặp nhau ở San Jose

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

MÀU HOA TRÊN MÁ AI - Truyện ngắn Ng. V. Uông K3



Chiếc xe khách đổ dốc thoai thoải, ôm sát con đường bao quanh mép nước, từ từ tiến vào bến. Nhận xong hành lý ba chúng tôi thả bộ về phía đầu cầu nơi có những cây tùng thẳng tắp và bực ghế đá dưới gốc dành cho du khách thư giãn ngắm hồ. Đây là trung tâm thành phố ư? Những con đường nhẵn thín, yên ắng khác thường, chẳng giống như thành phố quê tôi và những nơi tôi đã đi qua, nhì nhằng, om ả tiếng người và tiếng còi xe đủ loại. Đồi thông bên kia hồ xanh biếc rủ nghiêng xuống mép cỏ ven bờ, in bóng dưới làn nước trong xanh. Vài chiếc xe đạp nước giữa hồ gần xa như thực như mơ hồ huyền ảo. Nắng cuối thu trong ngần từ những chòm mây trắng trên cao dác vàng một lớp lên thành phố. Căn nhà nhỏ nhắn giữa đồi thông và nhà thủy tạ sáng trắng lên trong màu xanh cây rừng ấp ủ, trông như một cảnh thiên thai huyền thoại. Hồ Xuân Hương đây ư? Nơi mà tôi đã từng say đắm với màn sương lảng đảng, những hạt sương e ấp dưới đọt nắng mai, nóc gác chuông bồng bềnh giữa mảng xanh núi đồi đầy sương qua những tấm ảnh bưu thiếp khi tôi còn là cậu học sinh trung học.
Đà Lạt ngày tôi mới đến là thế đấy
Ba đứa chúng tôi nhận sự vụ lịnh phân công về Dalat trong niềm háo hức tuổi trẻ thích đi xa. Hằng ngày, từ nhà trọ lên phố, chúng tôi phải bao gần nửa vòng hồ. Đoạn đường bên này quen thuộc bao nhiêu thì bên kia hồ đối với tôi còn xa lạ lắm. Thời chiến tranh bất ổn, không có việc ít ai qua bên kia hồ. Có những sáng sương giăng kín, không thấy bờ. Có những chiều đàn vịt trời hàng mấy chục con nô giỡn móng nước xao động mặt hồ trước khi rủ nhau về tổ trong các lùm cây phía thượng nguồn. Có lần ba đứa tôi lên xe đạp nước ra giữa hồ, ngắm trời xanh đóng khung trong cái viền xanh của núi đồi. Bàn đạp nước làm vỡ tung tóe mặt hồ rập rình các chùm hoa sóng.
Chúng tôi dạy học ở vùng ngoại ô, chỉ lên thành phố dịp cuối tuần. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc tự dưng tan biến khi ngang qua hồ, tắm mình trong bầu khí mát lạnh. Chúng tôi gắn bó với nơi này như quê hương thứ hai. Nhiều cuộc hội ngộ, chia ly, nhiều người đi qua ánh mắt, có người còn đọng lại, có hình ảnh đã tan biến… đều đi vào kỷ niệm của một thời. Cuộc chiến đưa chúng tôi mỗi đứa về một ngả, chỉ còn mình tôi trụ lại đây như một chứng nhân, một điểm về cho dĩ vãng và có chuyện kể về cuộc tình dang dở của bạn tôi.
Bạn tôi quen một cô nữ sinh áo trắng, mỗi chiều thứ bảy ba chúng tôi vào thủy tạ ngắm hồ. Anh chị một bàn ở góc tối, tôi và người bạn còn lại chung bàn với nhiều người khác. Tiếng nhạc thính phòng tỉ tê trong không gian chiều vắng lặng, dìu dặt những nỗi niềm thầm kín khi hoàng hôn nhuộm đỏ những con sóng nhỏ lăn tăn để rồi chìm dần vào đêm đậm đặc. Tiếng chiều ngân nga từ gác chuông nhà thờ như lời cầu phúc cho một ngày bình yên. Hai người tắm vào cuộc tình say đắm với nhiều kỷ niệm, những cuộc hò hẹn dưới trăng mờ nghe tiếng hồ reo. Sương đêm lạnh ướt vai áo anh quyện vào tóc chị. Xuân về mai anh đào rụng cánh vươn lối hai người bước qua.
Chúng tôi có những ngày thật bình yên ở thành phố này trong khi những nơi khác bom đạn hằng ngày gieo rắc tai họa. Đà khốc liệt của chiến tranh hiện diện dần ở thành phố với việc cư dân nhiều miền ngày càng đổ về đây. Những tiếng bom pháo, lúc đầu chỉ nghe xa xa trong đêm, dần dần tiến về gần hơn. Thành phố xuất hiện nhiều màu áo nhà binh, những cuộc bắt bớ, những nỗi lo sợ khi đêm về. Người ta đã có ý thức lánh xa những nơi tụ tập đông người, hàng quán, nơi vui chơi công cộng. Những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, những cuộc giao tranh bằng nhiều loại vũ khí với nhiều xác chết của cả hai bên nổ ra trong lòng thành phố. Cô nữ sinh người yêu bạn tôi bị giam giữ sau một đợt biểu tình bạo động. Bạn tôi bị kiểm tra ngoài đường phố và đưa vào trại huấn luyện động viên. Hai người xa nhau theo hai ngõ khác biệt, không một lời chia tay. Anh vào lính. Mấy tháng sau, chị theo bạn bè ra rừng. Mấy năm sau tôi nghe tin anh chết trong chiến dịch Hạ Lào. Tôi đã mất hẳn hai người bạn của tôi.
Hết chiến tranh , tôi vẫn theo nghề cũ, sống trong thành phố này. Một buổi chiều, từ trường về, điều tôi không bao giờ nghĩ đến lại xảy ra. Một người đàn ông đang đùa với lũ con tôi trước sân. Tôi nhìn kỹ một lần nữa, không sai vào đâu được, đúng là Dạng, tên người bạn cũ của tôi. Hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng của lũ con tôi.
-Sao? Đã có tin là cậu chết rồi sao còn lù lù về đây ? Thế là thế nào ?
-Chuyện dài lắm. Mình còn sống về đây là được rồi. Mình hỏi mãi mới tìm được đến đây. Con cái đề huề vui nhỉ ?
Sau chiến tranh, khó khăn hiện rõ trong từng nhà qua mỗi bữa ăn khoai sắn cõng cơm. Tôi theo nghề dạy học nhưng đàn con sống được nhờ sức hai vợ chồng tôi gò lưng trên đám đất khai phá lấn rừng. Dạng lưu lại mấy hôm kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ ngày xa thành phố và cuộc đời người lính ngắn hơn cuộc đời người tù của anh. Anh bị lôi vào lính, tung vào chiến trường như một con cờ trong vô số con cờ khác. Trận cuối cùng kết thúc đời lính của Dạng rủi mà may. Trực thăng vận đổ quân xuống trận địa thì rơi vào ổ phục kích khổng lồ. Người chết, người bị thương la liệt. Dạng may mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh trên miền Bắc. Ra tù sau chiến tranh, Dạng về quê cùng gia đình đi kinh tế mới. Nhớ Đà Lạt, Dạng tìm đến đây.
-Thế đã gặp Thủy chưa ?
-Cũng muốn gặp nhưng chưa tiện.
Thủy, tên người yêu cũ của Dạng, hiện làm công tác chính quyền. Thỉnh thoảng tôi gặp cô nhưng không còn niềm nỡ như xưa. Sau mấy lần nấn ná, Dạng tìm đến Thủy. Hai người gặp lại nhau, tôi có dịp về thăm bà Năm trong căn nhà gỗ có khoảnh sân vuông vắn khoét vào sườn đồi giữa xứ mận đào đặc sản vùng quê Tây Nguyên. Ngày xưa, những chiều xuân như hôm nay, mận, đào nở hoa ngát vườn. Hoa mận trắng li ti từng chùm, từng đám. Hoa đào năm cánh hồng phai mặn mà như môi hồng người sơn nữ e ấp dáng xuân. Trong khi tôi và vài người bạn phụ bà Năm, mẹ Thủy, sữa soạn bữa cơm chiều thứ bảy cho những thằng giặc thành phố, từ bà Năm thường ưa gọi chúng tôi, về chơi nhà, Dạng và Thủy thơ thẩn trong vườn hay cập kê góc sân nhìn con đường quốc lộ uốn khúc trườn mình theo dốc đèo xuống huyện lỵ dưới thung lũng xa. Từ góc sân này, những ngày quang mây, nhìn về quê Dạng phía dưới mênh mông một góc trời trong xanh màu nước biển. Hai người đã từng mơ ước ngồi chung xe đổ đèo về vùng quê biển mặn mà gió muối của anh xây dựng ngôi nhà chung trong mộng.
Lần này, Thủy và bà Năm tiếp Dạng trong nhà. Tôi ra góc sân nhìn những chùm hoa muộn của cây mận già. Ngày xưa, gốc mận này sum sê lá cành, đầu xuân từng chùm hoa trắng bập bềnh theo gió rải không biết cơ man nào là những cánh hoa li ti phủ trắng một góc sân. Hè rực nắng, những trái chín căn mọng vàng mượt, nõn nà chi chít đầu cành, trĩu oằn lơi lả chờ tay người hái. Đó là cây mận ngon nhất vườn, bà Năm chỉ để dành đãi khách và làm quà biếu. Chiếc ghế đá nhỏ dưới gốc mận ngày xưa là không gian lí tưởng cho những đôi bạn tâm tình khi chiều xuống hay những đêm trăng nay không còn nữa, thay vào là bức tượng Phật Bà từ ngày Thủy và Dạng đi xa. Tôi với một cành mận nhìn những trái mận nhỏ li ti vừa rụng rốn hoa. Trong chuổi trái này, trái nào sẽ may mắn tồn tại và lớn lên đến ngày cho hương vị ngọt ngào, trái nào sẽ rụng rơi và tan biến vào đất cát... Đêm đó hai người nói chuyện rất lâu. Bà Năm dâng hương khấn nguyện trước sân, lầm rầm cắm trước tượng Phật, thói quen bà có từ ngày an vị bức tượng này.
Chúng tôi từ giã bà Năm và Thủy khi nắng mai xua tan hết màn sương trên triền dốc đất đỏ um tùm cỏ cây. Giữa lưng chừng đồi , tôi quay nhìn căn nhà gỗ chỏng chơ giữa vườn mận đào. Vượt qua hơn 30 cây số dốc đèo về Dalat, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Chiều hôm đó Dạng từ biệt tôi. Trong ánh mắt đượm buồn, tôi đã hình dung ra hồi kết của cuộc tình trắc trở. Định kiến và những ràng buộc ý thức không dễ cho họ đến được với nhau. Dạng xiếc tay tôi thật chặt như thầm nói lời chia tay vĩnh viễn.
Vài năm sau tôi được tin Dạng đã ra nước ngoài, Thủy kết hôn với một quan chức trong tỉnh.
Cuộc sống cứ thế trôi qua. Trong sâu thẳm tâm hồn, tôi không còn một mảy may suy nghĩ về mối tình của họ, cho đó chỉ một kỷ niệm đẹp thoáng qua. Cuộc sống của Thủy bình lặng như bao gia đình cán bộ trong thành phố này, công danh thành đạt, con cái trưởng thành. Dạng đã lấy vợ, sinh con, xây dựng gia đình êm ấm ở nước ngoài. Tôi ít nhận được tin của Dạng và nghĩ Dạng đã quên chuyện cũ ngày xưa.

Mấy chục năm lăn lộn với nghề, ngày nghỉ hưu nhiều trắc trở, nặng nề lại đến. Một buổi chiều, khi tôi loay hoay chuẩn bị một số công việc cho xong những ngày cuối cùng ở công sở, một sinh viên gõ cửa, từ tốn chào tôi. Áo dài trắng, tóc xỏa vai, đôi mắt long lanh e thẹn… Hình như tôi đã quen, đã gặp lần nào. Lừng chừng mãi không nhận ra, tôi đành buông một câu quen tần nghề nghiệp:
- Em gặp tôi ? Chuyện gì có cần lắm không ?
- Thưa … Thưa thầy… Mẹ em…
- Ồ!... Đúng rồi!... Mẹ em là Thủy phải không ?
- Dạ! Mẹ em nhờ thầy …
Tôi chăm chú nhìn cô bé, vẫn đôi mắt, cặp môi và nụ cười e thẹn ấy, vẫn bối rối mân mê từng chòm tóc vắt qua ngực rồi đưa lên môi, lên mũi thẹn thùng. Đúng là một bản sao của Thủy, là Thủy của mấy mươi năm trước.
Hôm sau tôi tìm thăm Thủy ở bệnh viện, một xác người khô queo, một khuôn mặt thẩn thờ nhưng đôi mắt như còn ẩn chứa một nỗi niềm cần giải bày. Tôi nói chuyện với Thủy mà cứ ngỡ như đang chuyện trò với cô bé ngồi ở cuối giường chờ săn sóc mẹ. Chồng Thủy là một cán bộ ở tỉnh. Sau ngày bà Năm mất, anh để Thủy xin nghỉ việc về sống ở quê với khu vườn có ngôi nhà gỗ, cây mận già. Thủy thương yêu chồng, biết ơn anh nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì mất mát, nuối tiếc. Cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng những nụ cười của Thủy chưa thật tươi tỉnh, mặn mà. Đôi lần Thủy có mặc cảm người phạm tội và cố quên đi tất cả nhưng quá khứ cứ chờn vờn hiện ra. Thật ra Thủy không còn một nỗi nhớ cụ thể nào nhưng sao cứ thấy nhớ, một sự nhớ xót xa, bâng quơ không dành cho một ai, không dính dáng đến một hình ảnh nào. Thủy nhờ tôi báo cho Dạng biết Thủy ốm và cần gặp anh. Một việc khó cho tôi vì từ lâu tôi không còn liên lạc với anh ấy.
Mấy lần dò hỏi, tôi tìm được địa chỉ những bạn anh ở quê, cuối cùng tôi cũng liên lạc được với Dạng. Nhưng chậm quá rồi, Thủy đi xa trước khi Dạng quay về. Trước khi mất Thủy rất tỉnh táo gởi lại cho tôi một chiếc hộp nhỏ bọc cẩn thận trong một phong bì nhờ chuyển cho Dạng khi gặp anh.
Mấy tháng sau Dạng về. Cũng mùa xuân... Một xe gắn máy hai ông già đổ đèo về thăm chốn cũ. Gởi xe ở dưới quốc lộ, hai chúng tôi ì ạch leo con dốc đất đỏ giữa hai vườn mận đào. Đứng ở hiên trường nhìn màu trời xanh nước biển phía dưới, nhìn khu vườn mận và ngôi nhà gỗ ngày xưa… Nhiều thay đổi lắm. Gần bốn mươi năm rồi còn gì! Ngày mới ra trường Dạng về đây nhận công tác là một thanh niên nhiều hăm hở, bây giờ đã hai thứ tóc thời gian nhuộm màu. Dạng nhớ lại một lần đứng ở hiên trường này nhìn bầu trời và khu vườn có ngôi nhà quen thuộc ấy, một bóng áo trắng hiện ra giữa cơ man hoa đào hoa mận mùa xuân. Gió xuân lay nhẹ vẽ nên vô số hoa nắng lên áo, lên tóc nàng tiên nữ giáng trần. Dạng quen với Thủy từ buổi ấy và gắn bó hơn với khu vườn có ngôi nhà lẻ loi này. Chúng tôi theo lối quen băng qua vườn. Một vài gốc mận, đào còn sót lại, cành lá khẳng khiu như là chứng nhân của một thời đã tàn lụi, không chen nổi với những cây hồng, cà phê mới trồng. Một bóng áo trắng tóc kẹp một nắm gọn gàng sau vần lưng tròn trịa lễ phép chào hai chúng tôi, mời vào nhà. Tôi giới thiệu với cháu đây là bác Dạng về thăm mẹ. Hai chúng tôi thắp hương trước bàn thờ Thủy và bà Năm, thăm mộ hai người. Cháu mời chúng tôi dự bữa cơm trưa cúng mẹ, nấn ná đến chiều rồi trở lại thành phố.
Hơn 20 năm trước, Dạng rời Việt Nam trong một chuyến đi hợp pháp. Nơi Dạng sống ít người Việt, anh luôn khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ và các món ăn Việt thân quen. Ở xứ người nỗi nhớ quê hương là nhớ về Thủy. Anh có thói quen ghi nhật ký từ ngày ấy, không nhiều, không thường xuyên, chỉ là những bức thư thầm cho Thủy, nói với Thủy. Anh sống như một người lập dị, ngoài thời gian cho công việc anh ngồi bên chiếc máy tính xem các trang tiếng Việt trên mạng. Lần này về quê anh lưu lại khá lâu vì bên ấy không còn gì ràng buộc. Gần đến tuổi nghỉ hưu thì cũng là lúc Dạng chia tay với người vợ lắm lời cùng đứa con gái không nói được tiếng Việt của anh. Anh đã từ bỏ tất cả cũng dễ dàng như khi đến với nhau. Mấy ngày ở nhà tôi anh thường săm se chiếc hộp gỗ Thủy gởi lại nhưng không mở ra. Tôi hỏi, anh chỉ nói qua loa những gì trong đó anh đã biết rồi. Chiếc hộp là của anh tặng Thủy khi mới quen để cô giữ những bức thư và ảnh.
Anh lên về Đà Lạt và quê anh nhiều lần nhưng không ở nhà tôi. Khi chụp được vài kiểu ảnh đẹp hay gặp chuyện vui, anh rủ tôi nhâm nhi cà phê cùng trao đổi. Một buổi chiều, Dạng chuyền cho tôi một xấp ảnh cũ. Anh cho tôi biết Huyền, người bạn trong ba chúng tôi, đã chọn đến cái chết không bình thường ở xứ người. Huyền định cư ở một Bang lẻ cực bắc nước Mỹ lạnh giá, anh dị ứng với tiếng Anh nên mấy mươi năm ở Mỹ anh chỉ sống bằng nguồn tiền trợ cấp. Huyền nhớ Đà Lạt hơn nhớ quê hương anh. Đây là những tấm Dạng chọn ra trong mớ ảnh còn lại của Huyền. Tôi dừng lại ở tấm hình bốn chúng tôi (có thêm Thủy) dưới gốc mai anh đào bên hồ. Ảnh đen trắng nhưng tôi vẫn nhận ra màu mai anh đào đung đưa cùng gió xuân ngày ấy:
-Cây mai anh đào bên kia đường đối diện chỗ chúng ta đang ngồi đây. Ngày ấy còn hai nhánh, thân bổ nghiêng ra hồ. Cậu và Huyền vắt vẻo bám hai nhánh cây. Chụp hình xong Huyền rơi tỏm xuống hồ. Thật một phen cười hú vía.
Dạng nhắc lại kỷ niệm cũ dưới gốc mai anh đào ngày ấy. Cây mai anh đào tôi ngắm thường ngày mỗi lần hoa nở. Nhánh lớn nay chỉ còn một gốc khô, nhánh nhỏ lớn lên thay thế và đứng thẳng dáng hơn. Mai anh đào năm nay nở muộn sang xuân. Tôi nhìn một cặp tình nhân chọn ghi những kiểu hình đẹp dưới tán hoa. Câu hát ngày xưa chúng tôi thường nghêu ngao hiện về “Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.
Ngày cuối cùng Dạng rời Đà Lạt, chúng tôi trở lại quán cà phê này nhìn hồ chiều. Hàng mai anh đào đã rậm lá non, vài cánh hoa muộn lạc lõng trong màu xanh non nõn nà không đủ sức trì níu hương xuân. Dạng cho tôi biết ý định về sống lâu dài ở đây. Tôi nghĩ đó là một chọn lựa cảm tính. Tôi mơ hồ nhớ lại buổi trưa trò chuyện với An, con Thủy, trong ngôi nhà gỗ giữa vườn mận, đào. “Khi ra trường, cháu sẽ xin về dạy học tại trường này như mẹ cháu thường mơ”. Tôi bắt đầu hoang mang về mãnh lực của thứ tình cảm đầu đời nghiệt ngã.

4/2009
Ugno.Vn


Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011

BÀI THƠ SƯ PHẠM - Đặng Hữu Bích K6


Tóc em cột thắt đuôi gà
Tan trường sư phạm, hỏi nhà em đâu
Nhìn sang em lúc lắc đầu
Mà trong cử chỉ đượm màu luyến thương

Con tim xao xuyến lạ thường
Bước đi hấp tấp, con đường thêm xa
Sao anh cứ chọc người ta
Ngày nào anh cũng hỏi nhà em đâu

Ngập ngừng muốn nói vài câu
Nhưng rồi mắc cở cúi đầu lặng im
Nghiêng nghiêng chiếc bóng bên thềm
Xuân đi, hạ đến cho mềm nhớ thương

Mối tình càng vấn càng vương
Gặp nhau một thuở mà thương suốt đời
Đong đưa giấc mộng đầy vơi
Hẹn hò trao đổi những lời thiết tha

Bên song chếch ánh trăng tà
Hương gây mùi nhớ giọng ca gợi buồn
Em đi như nước rời nguồn
Như thuyền rời bến nỗi buồn ai mang

Thu về gió đổi mùa sang
Vàng rơi lả tả miên man cõi iòng
Đông tàn héo hắt chờ mong
Người đi có nhớ ta không hỡi người

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

NGUỒN CỘI - Nguyên Đạt


Muốn làm cámh nhạn đầu xuân
Đậu trên đỉnh tháp bâng khuâng gọi về
Mặn mòi một chút tình quê
Ấp iu giữ mãi câu thề cùng ai

Tháng năm ruổi bước dặm dái
Chân cầu Ái Tử bỗng hoài cố hương
Phá Tam Giang vẫn thân thương
Làng Cư vẫn ấm giọt sương ân tình


Một thời sóng cát phiêu linh
Một thời cô lữ bên mình chăn đơn
Cánh buồm khát vọng yêu thương
Bên trời quê mẹ cội nguồn bình yên

MÓN ĂN QUÊ TÔI - Tùy bút Phan Cư - Khóa 5

Quảng Điền quê tôi thuộc vùng đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế, tuy nghèo nhưng nơi đây lại có nguồn thủy sãn phong phú để bà con chế biến ra nhiều món ngon nổi tiếng.
Mùa tháng 4, tháng 5 âm lịch trên phá Tam Giang có nhiều loại cá ngon như cá chình, cá ong, cá nâu, cá kình... Đây là loại cá cao cấp mà nấu kiểu gì cũng ngon: Kho, hấp, nấu canh với măng chua... Thực khách đến phá Tam giang ngồi ở những nhà hàng mộc mạc ven bờ, sau một chầu nhậu tôm, cua hay mực; mỗi người làm thêm một tô cháo cá ong bốc khói thì thật sảng khoái không gì bằng.
Mùa hè là mùa của cá thệ. Cá thệ nấu canh với thơm ăn thì quá đả. Cá này nếu đem kho rim với nước mắm, mỡ, đường cho quéo lại, ăn với cơm hay cháo gạo đỏ thì quả là tuyệt cú mèo.
Tháng bảy nước nhảy lên bờ là mùa cá ngạnh đẻ, ra chợ mua độ mười ngàn là có một bữa ăn ngon. Cá ngạnh con nào con nấy bụng đầy trứng, nấu canh măng chua thì có mà hết cơm. Loại cá này chỉ nấu canh hay kho rim là ngon.
Hiện nay ở thị trấn Sịa có nhiều quán ăn ngon như quán mụ A bán cháo xương giò, quán cháo bò gần trụ sở xã cũng rất đông khách, giá cả lại bình dân, chỉ cần mười ngàn là có một tô nóng sốt.
Như đa phần người Thừa Thiên Huế, bà con quê tôi cũng rất thích món cháo bánh canh. Bánh canh ở đây làm bằng bột gạo, không cắt thành sợi như trong Nam mà xẻo bột thành từng miếng nhỏ, mỏng, nấu với cá lóc hay tôm tươi bóc vỏ, húp vào thì cứ xuýt xoa khen mãi. Món bánh canh Huế nói chung ngon đến nỗi nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã hết lời ca ngợi:
Mời chị mời anh chén bánh canh Nam Phổ
Xơi vô bổ khỏe, có chất bổ, có mùi hương
Lại thêm mát mẻ can trường
Sâm Cao ly cũng sút, rượu Quỳnh Tương cũng không bì

(Làng Nam Phổ thuộc ngoại vi thành phố Huế )
Dọc hai bên sông Bồ thuộc phạm vi xã Quảng Thọ, dân quê tôi thường trồng một loại cây lương thực rất đa năng mà thân và củ đều ăn được, đó là cây chột nưa.
Cây nưa thuộc họ môn, lá khuyết như lá đu đủ, không những ăn củ ngon như củ khoai, củ sắn mà thân của nó còn dùng chế biến rất nhiều món ngon. Nưa ưa đất ẩm nên nông dân thường trồng cuối mùa hạ, và thu hoạch vào mùa đông là mùa mưa lụt, dưới sông có rất nhiều loại cá nhỏ như cá mương, cá mại, cá sơn… người ta tước vỏ thân nưa, xắt thành từng miếng cỡ lóng tay rồi kho với các loại cá nói trên trong nồi đất, thêm nước mắm, tiêu, hành, mỡ, ớt bột… để lửa riu riu cho thấm. Mùa đông giá rét mà ăn cơm nóng với cá kho chột nưa thì không có cao lương mỹ vị nào bì được! Ngoài ra chột nưa còn được dùng nấu canh với tôm bóc vỏ hay cá tràu (cá lóc loại nhỏ) hoặc làm dưa như dưa môn, dưa cải để dành ăn dần.
Tại ven sông Bồ, có làng Phú Lễ chuyên về nghề mua bán heo; họ có bí quyết luộc thịt rất ngon đến nỗi các vua chúa nhà Nguyễn thường tuyển dân làng vào cung phục vụ. Món bánh ướt cuốn thịt luộc chấm nước mắm ruốc dầm ớt xanh của làng này nổi tiếng vô cùng, đến nỗi có câu ca:
Gió đưa trái ớt đèo queo
Lấy vợ Phú Lễ thịt heo láng mồm
Gái Phú Lễ được tiếng là xinh đẹp, tóc dài da trắng. Lấy được vợ đẹp mà còn được ăn ngon nữa hỏi đấng nam nhi nào mà chẳng thích.
Món ngon quê tôi còn nhiều, nhiều lắm...
Bây giờ mỗi lần về thăm quê, niềm vui của tôi không phải là đi thăm thú đền đài cung điện hay xuôi giòng Hương giang nghe ca Huế mà là tìm kiếm thưởng thức những món ngon quê mùa dân dã, những món ăn đã từng nuôi tôi lớn lên, trưởng thành cho đến ngày xa quê.
Thương lắm quê nghèo tôi ơi!
Dalat 25.01.2011
Phan Cư
Lớp Nhị Bảy, Khóa 5 SPQN