Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012


               CHIỀU MUỘN
                                   Truyện ngắn-Nguyên Đạt

Họ cùng học chung lớp Đệ Tam C. Họ quen và yêu nhau một nửa năm sau đó, rồi cưới nhau khi cả hai cùng vượt qua kỳ thi Tú Tài bậc Trung học. Một căn phòng nho nhỏ xinh xinh, một quán cà-phê “cóc” nằm dưới gốc me già cuối phố cũng vừa đủ cho cặp vợ chồng son trẻ thoả nguyền mong ước. Vài năm sau, hai bé gái đẹp như búp bê lần lượt ra đời góp thêm tiếng cười trong gia đình vốn đã ắp đầy hạnh phúc. Bạn bè, đứa nào cũng mừng giùm cho họ…
                                                      *
Chính cái dáng dấp quê đặc của cậu chàng làm Quỳnh Thư chú ý. Trong khi cả lớp đứa nào cũng ăn mặc tinh tươm, đi giày đế “quya”, chải đầu láng mướt thì hắn ngược lại, chẳng có chút khái niệm gì về cách phục sức, áo quần luộm thuộm, bộ dáng lúc nào cũng lóng nga lóng ngóng, trông… ngô ngố (dễ ghét) làm sao ấy! Rồi lại thêm thỉnh thoảng lại biến khỏi lớp học dăm ba bữa, đôi khi suốt tuần. Mỗi lần như thế, bố mẹ hắn phải khăn đen áo dài tới trường năn nỉ ông hiệu trưởng hết nước miếng, ông ta mới thể tình chấp thuận cho vào học lại. Bạn bè có đứa tò mò hỏi chuyện: “Này! Lâu lâu cậu lại biến đi đâu mất tăm vậy?” thì hắn trả lời giọng tỉnh bơ:
-Đi Sài Gòn để hưởng cái thú tha hương, và thêm một chút thú… đói rách cho vui ấy mà.
Câu nói ngang phè, có phần hơi tối nghĩa của hắn khiến đám bạn bè nhao nhao lên tiếng:
-Hừ! Hưởng thú tha hương thì cũng được đi. Còn cái chuyện hưởng “thú” đói rách thì… quả là mình không thể nào hiểu nổi!?
-Gì mà không hiểu. Có đói rách thì mới có nhiều cảm hứng để sáng tác, mới thai nghén được nhiều tác phẩm hay chứ.
-À thì ra thế? Vậy những sáng tác của cậu đã gởi đi đâu, và có tờ báo nào chịu in chưa?
Hắn trả lời tắp lự:
-Ừ. Tớ gởi cũng khá nhiều báo. Nhưng… -Hắn nhoẻn miệng cười buồn: “Nhưng hình như vẫn còn nằm nguyên ở… hòm thư ấy” (!?).
Bạn bè mỉm cười dè bĩu, cho hắn là anh chàng hâm, kháo nhỏ:
-Ừ. Hắn ta muốn trở thành nhà Văn đấy “mình” ạ! Nhưng theo tao, có lẽ cả đời, hắn chỉ sáng tác được duy nhất mỗi cái bút hiệu Phạm Mặc Tường Ly Sơn trình làng là cùng.
Một tối, Quỳnh Thư lục cặp chuẩn bị bài vở cho sáng hôm sau, bất đồ thấy một tập giấy thò ra, rơi xuống sàn nhà; nàng cúi lượm, rồi tò mò mở ra xem, và trố mắt thích thú: một cặp bướm ngài được ép khô tuyệt đẹp, nằm châu đầu vào nhau trên tờ peluyafor trắng tinh.
Nàng trầm trồ xuýt xoa: “Ồ! Lùng sục khắp cả vườn hoa Đại Nội chắc gì kiếm được đôi bướm nào quý hiếm hơn cặp bướm này nhỉ?” và tiếp tục đọc hàng chữ bằng mực tím nắn nót chua bên dưới: “Nếu chỉ một mình thì đời sẽ buồn thiu hiu quạnh. Nhưng có hai mình, đời sẽ chẳng còn quạnh vắng buồn hiu. Quỳnh Thư nghĩ sao nhỉ”?
Vậy là cái anh chàng cà ngáo, ngu ngơ kia lọt cái rụp vào đôi mắt xanh của cô nàng nổi tiếng kiêu sa nhất lớp.
                                                                  *
“Cuộc Tình Bướm” đã cho Sơn những bước tiến thăng hoa, đã gợi mở, chắp cánh cho ngòi bút của anh bay tới những miền trời trăng sao sáng rỡ. Lần hồi Sơn cũng đã khẳng định cho mình được một chỗ đứng trong làng thơ ca, văn học. Một số tác phẩm của anh đăng ở tạp chí địa phương, một số khác được in ở tờ Văn nghệ thành phố và mấy tờ báo hằng ngày…
Hôm hoàn thành tác phẩm đầu tay có cái tên “Hoa Bươm Bướm” mà anh chắt chiu trìu mến qua nhiều năm tháng, đám bạn bè hùn nhau tổ chức một đêm thơ ra mắt giùm Sơn. Chính Quỳnh Thư, vợ anh lôi chiếc đàn tranh (quà tặng của mẹ thời còn đi học) phụ đệm cho các ngâm sĩ diễn đạt và minh hoạ những bài thơ (đứa con tinh thần) của anh với đám bạn bè, thân bằng quyến thuộc ở Câu lạc bộ Văn Hoá-Văn nghệ Thành phố.
Ngồi khuất sâu ở góc tối cuối phòng, Sơn say sưa thụ hưởng niềm vui, mặc cho trí tưởng chập chờn lang thang với mây ngàn gió núi mà bụng thầm mong sao nhịp đời cứ mãi mãi trôi xuôi như dòng suối nhỏ yên bình, không phải băng qua biển cả thác ghềnh phong ba bão táp. Nhưng… Liệu có được chăng khi đời vốn luôn luôn đỏng đảnh, chẳng chịu nuông chìu bất cứ một ai (!?). Bỗng dưng, Sơn cảm thấy bàng hoàng với cái dự cảm bất tường vừa thoáng qua tâm trí.
                                          *
… Dòng đời vẫn tuần tự đi qua trong mông muội của cuộc sống; ngày vui cứ tiếp nối những ngày vui, các Văn nhân, Thi sĩ tấp nập rủ nhau mang theo thơ phú với những câu chuyện (trên trời dưới đất) làm quà ghé quán “cà phê cóc” của đôi uyên ương ngày một đông đảo hơn. Họ nghiễm nhiên coi cái góc riêng này như một nơi dành riêng cho những “tâm hồn lớn” gặp nhau để bù khú, và tán gẫu.
Rồi một ngày đẹp trời, Toàn, người bạn thân của vợ chồng Sơn theo đà câu chuyện đẩy đưa:
-Anh Sơn à! Chị Quỳnh Thư đàn có nghề lắm! Đêm Thơ-Nhạc của anh thành công phần lớn cũng do ngón đàn tuyệt diệu của chị ấy đấy. Hay là…
Toàn nở một nụ cười (cầu tài) gợi ý: “Hay là mình tổ chức một Câu lạc bộ gồm toàn nghệ sĩ chơi nhạc cụ dân tộc đi. Chị Quỳnh sẽ có cơ hội bộc lộ hết tài năng của mình. Chắc hết ý đấy nhé”!!?
-Eo ôi! Tôi mà biểu diễn gì? -Quỳnh Thư bụm mặt kêu lên: “Ngượng chết đi được”.
-Rồi sẽ quen thôi chị ạ. Thời buổi bây giờ, các nhà hàng, khách sạn, người ta toàn chơi nhạc giựt, khiêu vũ ầm ĩ cả lên; không chừng loại hình thơ ca, dân nhạc (tìm lại cội nguồn) như mình lại trở nên đắc địa, thu hút nhiều khách làng thơ và khán-thính giả cho mà xem.
Quỳnh Thư ngước mắt nhìn Sơn dò hỏi, cười cười thú vị, có vẻ như đã hơi xiêu lòng, nhưng vẫn ngần ngại:
-Nhưng…
-Không nhưn-nhị gì hết. -Toàn cướp lời: “Hãy đến chỗ tôi đi. Anh chị thử nghĩ coi, cái quán cóc liêu xiêu thu nhập nhì nhằng này lấy gì cho cả nhà đủ sống? Với lại, hai cháu Thục Oanh và Diễm Hương rồi đây tuổi lớn, biết bao nhu cầu thiết yếu khác sẽ phát sinh, khi đó lấy gì để cung ứng cho các cháu ăn học. Anh chị thấy sao hả?

Thế là từ đó, đêm đêm nhà thơ Mặc Tường Ly Sơn cắm cúi đèo vợ trên chiếc xe đạp cà tàng đi làm việc. Quả nhiên, Câu lạc bộ Thơ-Nhạc Dân ca có vẻ ăn nên làm ra, khách thưởng thức lui tới ngày càng đông. Thỉnh thoảng Câu lạc bộ còn nhận đi biễu diễn những show ở nhà hàng cho khách nước ngoài xem, thu nhập cũng bộn. Nghệ sĩ đàn tranh Quỳnh Thư đã nổi tiếng. Đêm đêm, trong sênh phách mơ hồ, khách làng chơi đã quen lệ tới Tụ điểm âm nhạc thưởng thức thơ ca và ngón đàn điệu nghệ của kiều nữ Quỳnh Thư, say mê dõi theo dáng hình thon thả, lưng tựa bên rèm với mái tóc óng ả mượt mà chảy dài trên cần phím, tuôn ra những âm điệu réo rắt, trầm buồn ai oán như lời người cung nữ một đời bị bỏ quên sau lưng điện ngọc, để cảm thương, để nhung nhớ, để tơ tưởng, và… để rưng buồn giữa “đêm dài lắm mộng”. Ôi!
Lênh đênh mười sáu dây tình
Mới nghiêng cánh nhạn đã thành câu rao
Gió mưa nương náu dây nào
Tình anh sao bỗng lạc vào nước mây?!? (*)
Hào quang của sự thành công làm Quỳnh Thư tự đánh giá lại mình, nhìn lại người, rồi cảm thấy chồng mình tầm tầm thế nào ấy. Dần dà nàng đâm ra ngượng ngùng khó chịu trước cái tuềnh toàng chân chất của Sơn, một con người ngây ngô, luôn dững dưng trước cảnh đời thực dụng.
Thấy Sơn vất vả, Toàn chủ động đề xuất để mình dùng xe gắn máy đón đưa Quỳnh Thư giúp, vừa nhanh gọn, vừa thuận lợi cho công việc hơn. “Vậy cũng được”! Sơn lẩm bẩm đồng ý. Mặt hồ vẫn còn như bình lặng; nhưng… dường như đâu đó đã gợn lên vài dợn sóng lăn tăn; anh mơ hồ liên tưởng…
                                                      *
… -Chuyện là vậy đó anh à! -Quỳnh Thư vùi trong tiếng khóc dã dượi tấm tức: “Em đã qúa lạt lòng không cưỡng nổi để xảy ra cơ sự. Em có “tội” với anh. Em van anh, hãy tha… tha thứ cho em”.
Sơn câm nín một lúc lâu, không biết phải nói gì với vợ; chuyện đời trần trụi đột nhiên phơi bày trước mắt khiến anh sững sờ bãi hoãi, chưa tin đó là sự thật. Lặng nhìn bóng nắng cuối ngày vật vờ leo dần bên ngoài cửa sổ, Sơn tự hỏi: “Ôi! Sự thực lại cay đắng nghiệt ngã đến thế này ư”?! Trong liền gần cả chục năm nay, vợ chồng anh đã được mọi người hâm mộ tán dương, cho là một cặp đôi hạnh phúc nhất đời; vậy mà giờ đây, nàng đang ngồi trước mặt anh với lời thú tội, những lời thú tội (sống sượng) đến không thể nào tin được.
Anh quay sang vợ, cố giữ bình tĩnh, trầm giọng hỏi:
-Vậy bây giờ em tính sao?
Như đã chuẩn bị sẵn đâu đó từ trước, Quỳnh Thư chăm bẵm trả lời:
-Phải xa nhau thôi anh ạ! Mình không thể tiếp tục sống với nhau trong mặc cảm được anh ạ.
-Vậy mấy đứa con của mình? Không lẽ để chúng phải…
-Đành vậy thôi. Em sẽ cố để dành tiền gởi về cho anh sinh sống và nuôi con.
-Không…! -Sơn bức bối hét lên: “Tôi không cần tiền. Tôi và con chỉ cần em. Có em thôi”! Rồi ôm mặt nức nở khóc vùi…
*
Vậy là nàng đã ra đi. Anh biết nàng muốn ra đi nên không buồn cầm giữ, nếu muốn ở lại, nàng cứ giữ tình trạng mập mờ, anh nào hay biết. Thôi, ít ra nàng cũng có lòng trung thực nói ra việc mình làm, không lừa dối anh.
Sơn trải qua những ngày tháng thật nặng nề và bi thảm, tâm hồn anh hoàn toàn trống vắng hoang vu như con thuyền không bến đậu. Anh muốn buông xuôi tất cả trong men say, tới đâu thì tới; nhưng rồi mỗi ngày lại xảy ra cái chuyện cơm-áo-gạo-tiền, mỗi ngày lại phải đối diện với vô khối chuyện sĩ nhục của cuộc sống trước mắt khiến anh phải bận tâm. Anh biết mình không thể mãi hoài bước đi trên con đường hiu quạnh mà phải tìm ra một lối thoát, chí ít cũng tránh cho hai đứa con gái tội nghiệp của mình vốn đã đau buồn vì thiếu mẹ, nay lại phải gánh thêm những thương tổn của tâm hồn.
Thế rồi với chiếc mũ nồi nghễu nghện trên chiếc đầu bù rối, với bài “Xích lô hành” lận túi bên lưng, Sơn lượn lờ khắp nẻo đường phố xá kiếm kế sinh nhai:
Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Về đây sau một kiếp giang hồ
Thợ không ra thợ vì cô thế
Thầy chẳng ra thầy bởi lỡ cơ
… Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Đạp cho xong hết một đời phu
Chở đau thương về cùng nghĩa địa
Chở hạnh phúc về với tuổi thơ (**)
*
Đêm trăng ngời ngợi, nền trời trong xanh, xanh thẳm như được chiếu sáng đến tột cùng giữa một đêm hè thanh quang thoáng đãng. Anh lại tìm về nơi chốn kỷ niệm ngày xưa. Cũng tại chỗ này, cũng vào một đêm trăng như thế hơn chục năm trước, Sơn và Quỳnh Thư sau cả một buổi chiều cùng đám nhóc chạy theo đoàn làm phim xem quay cảnh “Mỵ Châu Trọng Thuỷ” đã nán lại bên bờ hồ Tịnh Tâm này thủ thỉ tâm tình, hẹn thề với nhau lời nguyền chung thuỷ. Nghe nói ngày xưa, các vua nhà Nguyễn sau buổi thiết triều, thỉnh thoảng cũng thường tới đây để thưởng ngoạn, tìm những phút thư giãn để tâm hồn tĩnh lặng lại sau một ngày vất vả lo toan cho đám thần dân; nhưng bây giờ thì Sơn ngồi đây với một tâm trạng rối bời.
Ngôi thuỷ đình với chiếc mái ngói cong cong bị những cành cổ thụ vươn dài phủ trùm, chia cắt ra nhiều mảng nhỏ in hình trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng giữa mấy đọt ngó sen lô nhô, biến thành một vệt dài đen thẫm trông dị dạng chẳng khác nào khuôn mặt của Sơn sau những ngày bươn chải giữa cảnh đời hoang mạc. Mùi của bùn, của nước, của lá cây mục và cả mùi hương hoa nữa đan quyện vào nhau thành một thứ mùi tạp nham khó ngửi, nhưng sao nó quen thuộc, gợi nhớ tới người xưa da diết đến thế nhỉ?!
… Một đám mây lớn chầm chậm bay qua, thoáng chốc, bầu trời tự nhiên tối sầm lại, Sơn ngồi tỉ mẩn cầm từng viên sỏi nhỏ tung xuống mặt hồ rồi dõi theo những vòng hoa sóng bám, đuổi bắt nhau, thốt nhiên bật lên tiếng thở dài cảm thán: “Quỳnh Thư ơi! Em mãi mãi vẫn là một phần đời không thể thiếu của riêng anh”.
Có tiếng chân khua nước đâu đây phía dưới dãy hành lang ẩn khuất sau khúc quanh của ngôi thuỷ đình u tịch, một tiếng thổn thức nhẹ tênh như ai đó cố tình nén lại,  theo gió thoảng đưa, rồi một bóng đen chạy vụt qua, chớp mắt mất hút dưới hàng cây tím thẫm. Anh giật mình, hoang mang nhìn theo, chỉ kịp nhận ra một bóng dáng thon thả thân quen đến lạ…
Ngoài kia, tiếng gió vẫn lao xao rền rĩ trên những tán lá xào xạt vọng khắp mặt hồ. Một loại tiếng như được sinh ra từ cõi bờ xa thẳm.
                                            Tháng 6/2012
                                              Nguyên Đạt

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

 Mải Miết Hồn Quê

xa quê chửa được bao ngày
mà con chim mộng bay đầy trang thơ
trời cao đất thấp ơ hờ
để riêng ra giữa trăng chờ gió mong
 

một con sông một khúc lòng
mịt mù bóng dáng chập chùng bèo mây
trăng chờ gió đợi chi đây
tháng ngày chỉ những… ô hay là buồn
 

con sông có nhớ ngọn nguồn ?
sao ta mải miết một hồn quê xưa

Cuồng Vũ
San jose những ngày xa quê

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

 CHIẾC NÔI ĐẦU ĐỜI
Truyện Ngắn

Cháu là người đầu tiên của dòng tộc nhà mình được sinh ra trong ngôi làng này đó, sau này cháu phải cố làm sao cho dòng họ nhà mình được mở mày nở mặt với người ta nghe cháu. Ông nội thường vuốt tóc và âu yếm nói với tôi như thế mỗi lần ông-cháu có dịp gần gũi bên nhau. Tuy còn nhỏ dại, chưa thấu hiểu hết những điều ông dạy bảo nhưng tôi vẫn đinh ninh trong bụng là sẽ làm đúng như ý ông, bởi, nội là người mà suốt cả đời, luôn làm cho tôi kính yêu và ngưỡng mộ hơn ai hết…
Theo như lời bố thì nội là người có máu giang hồ lãng tử gi gì đó. Sinh ra ở một quê xứ nghèo đến đỗi chó ăn đá-gà ăn muối; chưa đầy mười sáu tuổi ông đã bỏ làng ra đi tìm kế sinh nhai. Chỉ với một cái túi đựng cưa-bào-dùi-đục, ông lang bạt hết làng này qua làng khác miệt mài xây dựng sự nghiệp cho tới ngày gặp được bà nội và cưới luôn làm vợ. Bà nội không hẳn là người con gái đẹp nhất làng nhưng được ông quí trọng và yêu thương; bà cũng biết thế nên cố gắng hết mình để mang lại hạnh phúc đáp đền cho ông. Bà đúng là mẫu người thuỷ chung hiền thục, một lòng một dạ phục tùng chồng; ý ông thế nào thì ý bà cũng vậy, chưa bao giờ hai người có chuyện cãi vã lớn tiếng vì bất đồng chuyện này hay chuyện nọ. Hơn chục năm sau ngày cưới, bà lễ mễ khăn gói theo chồng dọc ngang hết vùng này sang miền khác. Ông nội thì chả thích ở lâu một chỗ, cứ vừa dọn tới đâu đó một thời gian, khi mà những niềm vui của sự đổi thay qua đi là ông lại bốc cả nhà dời đi nơi khác; bởi vậy cái tên của bố và mấy cô chú tôi nghe rất ngộ. Đại loại bố tên Đuồi vì được sinh ra cuối doi cồn cát bên bờ sông trong một chuyến chợ phiên. Chú tôi thì khi mới sinh ra còn đỏ hỏn, gặp lúc giặc giã tràn tới, cả nhà phải đùm túm ôm nhau chạy loạn nên đặt tên là Chạy. Cô Rơi thì bị đẻ rớt ở vồng khoai lang…vv…và…vv….
Khi ông quyết định cắm dùi vĩnh viễn ở làng này thì bố tôi đã trên dưới ba chục, còn cô Út cũng vừa ưa tới tuổi lấy chồng.
Thật ra khi ông mới tới ngụ cư, cảnh vật nơi đây còn mang vẻ tiêu điều hoang sơ lắm; lèo tèo đâu khoảng mươi nóc nhà thưa thớt do một nhóm nhỏ cư dân từ làng trên tách ra nằm rải rác trên bãi cát dài mênh mông, dày đặc toàn xương rồng và những cây dứa dại nên chưa thể gọi là làng được. Cụ Tổ làng sau mấy mùa liền thất bát thấy không thể sống thuần bằng nghề nông được mới đề xuất với ban hương lý cho mình và con cháu được dời ra doi đất phía dưới để làm ăn sinh sống. Mót máy hết lưng vốn, cụ cũng chỉ vừa đủ tiền nộp phí lệ làng cho xuất đinh và xuất ấp nhưng điền thì đành chịu. Bởi thế cả làng chẳng một ai có lấy mảnh đất canh tác. Cũng may sản vật của vùng đầm phá rất phong phú; những năm đầu dân làng mò cua bắt hến ở ven bờ đem bán, mua lại lúa gạo cũng đủ đắp đổi qua ngày. Đối với lũ trẻ chúng tôi, phá Tam Giang không những là người mẹ bao dung đã cưu mang mấy đời ông cháu mà còn là người bạn thiết thân qua từng tuổi lớn; từ lúc tóc còn để chỏm, ở lỗ tồng ngồng chạy chơi trên rìa phá hoặc cùng nhau bưng đất làm đìa, đào ao tát cá, chia phe tập trận, đùa vui trửng giỡn… Rồi tới một lúc nào đó, đôi tay biết nắm lấy quai chèo, đôi chân biết nhún nhảy sau dầm lái với giọng hò mới vừa vỡ tiếng, khàn khàn y vịt đực; rồi tiếp nối là những đám cưới, rước họ đưa dâu, gắn kết cuộc sống lứa đôi giữa hai bến bờ sông nước…
Khi vừa tròn sáu tuổi, một lần ông nội dẫn tôi ra đứng trước sân nhà, ánh mắt hể hả đưa tay chỉ bao quát một vòng ngôi nhà ba gian hai chái xoa tay mãn nguyện:
-Cháu thấy cơ ngơi của ông có bề thế không?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã tiếp với giọng trầm buồn như mơ màng tiếc nuối:
-Giá như ông đây chịu khó ở yên một chỗ thì nói chi tới nhà ngói ba gian mà phải là…
Bà đang ngồi bên cơi trầu nghe ông nói vậy, nheo mắt nguýt một cái rõ dài:
-Hai ông cháu lại bắt đầu nói dóc rồi đó.
Tôi kề bên tai ông nói nhỏ:
-Ấy. Bà giận ông rồi đấy!
Ông cười khà:
-Dễ gì giận ông được hả cháu. Để rồi xem…
Coi bộ thường ngủng ngẳng thế nhưng ông bà thương nhau ra phết, rất hiếm khi họ giận hờn, trách móc hay đỗ lỗi cho nhau. “Hơn thua làm gì để rồi sứt mẻ tình cảm gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau”. Ông thường nói với bạn bè như thế: “Nhịn là tốt nhất, mình đã chịu thua thì đối phương lấy gì gây hấn hà, hà…”.
Một bận không hiểu chuyện gì mà bà nội hờn lẫy, chê bai ông đủ thứ, ông chỉ cười cười, nửa đùa nửa thật bảo: “Tội nghiệp cho bà. Không ngờ xui xẻo lấy phải một ông chồng tệ quá. Mần răng đây hở?” -Đang thao thao bất tuyệt, nghe vậy bà đâm ra chột dạ, biết mình đã ăn nói quá trớn. Từ đấy hễ khi nào giận dỗi, bà chỉ dám hành hạ lũ chén bát trong chậu rửa, khua khoắn cho tụi nó chửi lộn lẫn nhau một lúc để hả dạ chút đỉnh rồi thôi.
Hồi đó, thường khoảng ba tháng một lần, các quan hàng tổng, bạn bè thân hữu và đám chức việc quen biết, sau buổi lên huyện vấn an mấy vị bề trên trở về, thế nào cũng ghé thăm ông, vầy cuộc tổ tôm, đổ xâm hường hoặc chơi trò mạt chược; sau khi mãn cuộc thì ngồi lại cùng đánh chén lai rai; nhà cửa hôm đó thiệt đông vui rộn ràng như ngày hội. Bọn trẻ loi choi như chúng tôi quả là khoái chí vì được ông giao cho nhiệm vụ quan trọng là đi cắt cỏ tươi đem về bỏ đầy mấy chiếc giỏ tre đeo dười cổ ngựa cho chúng ăn. Được dịp vỗ về chăm sóc, tận mắt, tận tay rờ bụng rờ mông mấy chú ngựa thồ cao lớn dũng mãnh oai phong, bọn nhóc chúng tôi không những thỏa mãn cái tính hiếu kỳ, mà lại còn được các cụ thưởng cho mấy xu bạc cắt, túi kêu rủng rẻng nghe thật vui tai nên mặt mày đứa nào cũng tươi roi rói.
Vốn biết tính ông nội sính khách lại hơi nóng nảy nên người nhà ra sức đốc thúc nhau hối hả dọn bàn, lắm lúc để xảy ra sơ sót. Một lần, ngồi vào bàn tiệc, nội tinh mắt phát hiện trong đĩa thịt phay có lẫn cái mề gà còn dính chùm với cuống họng chưa kịp bóc ra, vội gắp hết bỏ vào chén mình tránh để quan khách khỏi nhìn thấy. Hôm sau nội kêu mọi người lại, ai cũng len lét nhìn nhau e rằng sẽ bị quở trách một trận tơi bời hoa lá, nhưng hóa ra ông chỉ dịu dàng dạy bảo: “Phàm việc gì cũng vậy, biết cách sắp xếp thì vừa nhanh lại vừa gọn cả thôi. Như chuyện hôm qua ấy, nếu ngại khách khứa chờ lâu thì sau khi vặt sạch lông gà, ta tách riêng hai đùi luộc trước đem bóp rau răm cho họ nhắm lai rai, các món khác từ từ xào nấu rồi tiếp tục dọn lên có phải nhất cử lưỡng tiện không?”. Ông tôi là vậy đó, không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để giảng giải và truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết của mình cho những người xung quanh (tuy có hơi dài dòng văn tự một chút); nhiều lúc quá cao hứng, ông diễn thuyết say sưa đến sùi bọt mép. Tội nghiệp bà, cặp mắt cứ phải nhấp nháy nom theo từng động tác của ông, ngay ngáy thầm lo cho cái mạng sống mong manh của lũ chén bát và mấy thứ đồ cổ đắt tiền, bởi trong lúc diễn giải, ông có thể khua tay, múa chân hoặc tùy tiện cầm chúng, ơ hờ đặt vào bất cứ góc cạnh, xó xỉnh nào.
*
Khi đã cảm thấy tuổi già sức yếu, nội giao hết công việc trong ngoài cho bố, bây giờ ông chỉ thuần nằm đọc truyện Tàu, chăm sóc cây cảnh, đi thăm thú bạn bè đâu đó hoặc lâu lâu mời họ tới chơi nhà cùng uống trà, thả thơ ngâm vịnh gọi là: Tuổi cao còn lắm ước mơ - Trồng cây cho đất, làm thơ cho đời. Những cuộc họp mặt của mấy ông bạn già thiệt ngộ; nhiều khi họ ngồi với nhau suốt buổi chẳng thèm nói năng tâm sự gì sất, vậy mà xem ra khi từ giã ra về họ lại rất vui, rất hào hứng và thoả mãn.
Tuy không giữ một chức viêc gì trong làng xã, nhưng ông nội lại được bà con trọng vọng gọi là ông Bộ do thường ra tay hóa giải thành công những vụ tranh chấp đất đai nho nhỏ, những chuyện bất hòa trong gia đình hay kiện tụng linh tinh không đâu vào đâu làm mất tình cảm hàng xóm láng giềng…Bà nội vốn là người chu đáo, sắm sanh cho ông đầy đủ lệ bộ nào là áo dài the thâm, khăn đóng, giày hạ… để mỗi lần đi đây đi đó hay tham gia phương việc hành lễ, tế tự ở đình làng miếu mạo được danh giá bài bản, còn ở nhà thì may cho ông áo vạt hò ba tà, quần đáy chèn dăm bộ, nhưng hễ mỗi khi cần lấy ra mặc, nhiều lúc tìm tới đỏ con mắt chẳng thấy đâu. Bị bà hỏi riết ông đành sường sượng nhỏ giọng thú thiệt: “Thông cảm hoàn cảnh anh bạn xóm trên nghèo khó hơn mình nên đem biếu cả”. Lần này bà nội giận ông khá lâu, chẳng thèm nói năng trò chuyện ba bốn ngày liền; nhưng rồi với cái tài tiếu lâm đàng điệu của mình, ông buộc bà phải cười lăn chiêng đổ đèn, và cuối cùng, mọi sự đâu lại vào đấy.
Là một người thông nho lại biết cả chữ quốc ngữ nên ông nội rất yêu thích thơ phú-văn chương. Hằng năm, cứ mỗi dịp đầu xuân ông khai bút một lần. Những bài thơ làm được trong dịp này ông gởi tới nhóm bạn bè thân hữu cùng thời học chữ Hán-nôm còn sót lại, hẹn nhau đúng đêm nguyên tiêu kéo ra giữa lòng sông, uống rượu thưởng trăng và xướng ca ngâm vịnh. Họ gọi đó là Bữa tiệc Tản Đà trên giòng phá Tam Giang.
Vào khoảng chạng vạng tối đêm rằm tháng giêng, không gian vừa mới nhọ mặt người, mọi người đã tập hợp đông đủ ở điểm hẹn rồi lục tục bước lên hai chiếc đò không mui nằm chờ sẵn với đám trạo phu có tay nghề lão luyện chèo thẳng một mạch ra khơi rồi ghép chặt song đôi với nhau, và neo vào giàn sáo cắm bên mé giữa lòng sông. Họ đủng đỉnh châm trà, vừa uống vừa tán gẫu chuyện nhân tình thế sự, chờ tới lúc nửa khuya, khi mà không gian trở nên tĩnh lặng không còn bị khuấy động bởi tiếng sanh gõ nhịp của nhóm vạn chài đánh bắt cá tôm mới lễ mễ đem các món nhắm do bà nội đã gia công tỉ mẩn tỉa tót cẩn thận mấy hôm trước đặt vào chiếc mâm gỗ ở giữa khoang đò, sau đó họ ngồi xấp bàn sát cánh bên nhau, sửa soạn cho thật đúng lệ bộ rồi trang trọng cầm ly rượu sủi tăm nâng lên ngang mày, mời nhau theo nghi tục đầu tiên: chiêu một ngụm, chiêu hai ngụm rồi ngửa cổ nốc một hơi cạn ngụm cuối cùng với tiếng khà…(à) sảng khoái. Vừa ưa, chủ đò vớt từ chiếc nò đơm chú cá đối to đùng đang quẩy cựa lung tung, chỉ trong nháy mắt làm sạch lòng ruột, bỏ vào nồi nước sôi luộc vừa chín tới, họ chất đầy tô những lát chuối non xắt mỏng cùng các loại rau ghém, khúc cá béo ngậy rồi rưới thứ nước lèo sền sệt được quết nhuyễn bằng ruột gan cá đối, đậu phụng, mè, ớt-tỏi-chanh-đường và thồn vào miệng cho hai má căng phồng, nhồm nhoàm nhai để kích thích tuyến nước bọt từ chân răng tươm ra, trung hòa với món nhắm rồi trợn mắt nuốt ực vào bụng, tận hưởng hương vị của cái thú phàm phu, ngon không chê vào đâu được.
Cứ thế, rượu bọt sóng sánh sủi tăm, món ăn có thanh có tục, câu chuyện mỗi lúc càng rôm rả ý hợp tâm đầu. Họ đi vào cuộc chơi tự nhiên như nhiên, sẵn tự bao giờ:
Tôi rót cho anh chén tím này
Biển trăng cùng uống với ta đây
Nâng lên sóng biển xô vào chén
Để xuống thì trăng lại rót đầy… (*)
Dưới ánh trăng của đêm nguyên tiêu sáng trong vằng vặc in rõ cả bầu trời-sao lung linh đáy nước cộng với làn gió mát rượi hây hây từng đợt lướt qua, đưa cuộc tiệc thăng hoa, khơi mào cho niềm vui tuôn tràn cảm hứng. Ngồi bên các cụ hầu rượu, tuy chẳng hiểu thế nào là tuý ngoạ sa trường… là thất thập cổ lai hy… gì gì đó nhưng bị lây bầu khí hào hứng sinh động của các bậc trưởng thượng, bất giác tôi cũng nhe răng cười hỉ hả.
Rồi có ai đó ngâm lên mấy vần thơ lục bát, có ai đó đem phổ giai điệu vào những câu hò mái nhì mái đẩy. Giọng ca nhừa nhựa tuy không điệu nghệ nhưng chơn chất, hết ý hết tình. Và bỗng dưng giữa bầu khí hoang liêu cô tịch, tiếng sáo vút cao trong không gian vời vợi, đưa những dòng âm ba lượn lờ theo sóng nước muôn trùng như dẫn dắt hồn người đi vào chốn bồng lai tiên cảnh…
Huyền thoại bà chúa Tơ hiện ra với dáng vẻ kiêu sa lộng lẫy trong tiếng thầm thì của nội: -Cháu biết không? Xưa kia làng mình nghèo khó lắm. Ruộng nương chẳng có, chỉ vùng đầm phá này là nơi bà con dựa vào để đánh bắt cá tôm tạm sinh sống qua ngày, nhưng muốn đánh bắt cá tôm cũng phải trả tiền thuê “mặt nước” cho hương chức của một làng khác. Nếu như không có bà chúa Tơ người con gái hiền thục họ Trần…
Tôi “Dạ…” một tiếng, nghe mỏng tanh như hơi gió thoảng, e sẽ làm tan loãng cõi linh thiêng
… -Bà rất đẹp lại nổi tiếng hiền đức, được vua yêu, sắc phong làm vương phi. Mặc dù sống trong cảnh sang giàu quyền quý, thưởng thức đủ các món sơn hào hải vị, được các nô tỳ lúc nào cũng sẵn sàng săn đón cung phụng, nhưng bà vẫn luôn canh cánh bên lòng về nơi chốn xuất thân của mình, ở đó, bà con đang bần hàn vất vả kiếm sống từng ngày. Nhân ngày mừng lễ tứ tuần, lợi dụng lúc nhà vua đang vui vẻ, bà giải bày cái tâm nguyện của mình, và xin ban cho một đặc ân, may sao, được ngài chấp thuận ngay. Bà mừng rỡ, lập tức cho người lấy dây tơ bện một cái quai chèo thật bền-chắc, rồi chọn ngày lành tháng tốt, lựa điểm xuất phát ngay giữa lòng sông, tự mình chèo ngược lên vùng thượng lưu cho tới khi kiệt hết hơi sức, quai chèo rệu toác mới thôi. Từ đấy, phía tây kêu thượng trung cừ, phía đông gọi xạ long cốt chính là phần thuỷ giới bà chúa Tơ dành tặng cho quê hương bản quán. Nhờ đó, con dân làng mình mới được an cư và lạc nghiệp. Hằng năm khỏi phải định kỳ mang khăn đóng áo dài sắm sanh lễ vật vượt đồi vượt suối cầu cạnh van xin.
… Tới đây, giọng nội tự nhiên trở nên bức thiết: “Sau này dẫu cháu có làm gì, ở tận nơi đâu cũng nên cố gắng tìm về với quê hương bản quán. Cháu phải hiểu: Cây có cội mới toả cành xanh lá - Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu - Con người ta có trước có sau - Có tiên có tổ rồi sau mới có mình. “Uống nước nhớ nguồn” là vậy đó cháu ạ”!
Người đời thường nói: -Sự gian khổ đau buồn đã trải qua thường làm cho ta nhớ mãi nhưng với riêng tôi thì những kỷ niệm về những năm tháng tuyệt diệu được ở bên ông chẳng bao giờ có thể phai mờ trong ký ức. Giờ đây, tôi ước gì có ông bên cạnh, ở ông, bao giờ tôi cũng tìm được an ủi trong những lời nói yêu thương, sự thông cảm và lòng nhân ái của người. Qua nội tôi đã học được tính cách mạnh mẽ, linh hoạt để ứng xử với đời đúng thời đúng lúc nên rất ít khi vấp ngã sót sai. Nhờ vậy mà đôi khi trên bước đường đời gặp phải những chông gai ngáng trở, tôi không cảm thấy bất hạnh chán chường mà vẫn luôn lạc quan, có đủ định lực và dũng khí vượt qua không bỏ cuộc giữa chừng. Nội không những nuôi tôi khôn lớn, dạy cho tôi biết điều nhân nghĩa mà còn biếu thêm cho tôi cả hạnh phúc lẫn ước mơ…
Năm tháng qua đi. Tôi bây giờ cũng đã bước tới cái ngưỡng của tuổi già. Chẳng biết có phải do nghiệp dĩ hay không mà tới lượt mình, tôi lại cũng lên đường hát bản du ca đi tìm miền đất mới. Cuộc sống tha hương về vật chất tuy có phần thư thả hơn nhưng cũng phải lao lung vất vả lắm mới có đủ cái ăn cái mặc chứ không hẳn là ngồi mát ăn bát vàng như người thân ở quê nhà thường lầm tưởng. Tôi vẫn tìm dịp về lại quê xưa mỗi khi có cơ hội, và một khi đã ở ngay trong lòng đất mẹ tôi mới tìm được cái cảm giác yên bình của những tháng ngày xưa cũ, thiêng liêng và gắn kết như chưa bao giờ chia lìa phân cách.
Tết năm nay không thể sắp xếp về thăm quê như mọi bận. Ở xứ người, Nguyên Đán chẳng phải là lễ chính nên không có ngày nghĩ, tôi phải chọn ngày chủ nhật gần nhất làm lễ cúng tất niên để cháu con có dịp đề huề sum họp, lưu giữ nếp xưa.
Mấy nàng dâu và cô con gái rượu của tôi xúm quanh bà xã quan sát, thấy bà chăm chút nấu nướng bày biện mâm cổ quá tươm tất thì trầm trồ:
-Ô. Mẹ khéo tay quá, tỉa tót bông hoa, đầu rồng đuôi phượng cứ y như là thật. Tụi con thiệt vụng về, chẳng biết làm một thứ gì cả.
Biết con cái tủi thân, bà xã tôi ngước đôi mắt hiền từ nhìn từng đứa dịu lời thông cảm:
-Không hẳn vậy đâu. Đời sống công nghiệp là phải rứa thôi. Đồ ăn làm sẵn chất đầy mấy cửa hàng cũng ngon chán. Tội gì phải mất thì giờ, vừa mệt vừa không được nghỉ ngơi dành sức làm việc.
Lũ cháu nội-ngoại lóc nhóc thì hùa tới túm áo hỏi tôi:
-Ông ơi! Mình mở tiệc chiêu đãi ai vậy ông?
Tôi âu yếm xoa đầu từng đứa, rồi thủng thẳng trả lời:
-Hôm nay là ngày Tết, nhà mình dọn cổ mời ông bà tiên tổ về thưởng thức đó.
Nhưng chúng vẫn thắc mắc:
-Xa vậy làm sao ông bà tới đây được?
Câu hỏi ngây thơ của đứa cháu hiếu động làm tôi chững đi giây lát.
-“Ừ, ông bà mình trước giờ toàn đi chân đất, chỉ loanh quanh trong mấy lũy tre làng, liệu có biết đường qua đây sum vầy với con cháu không nhỉ”.
Đang loay hoay suy nghĩ chưa biết trả lời sao cho thỏa đáng với thằng cháu đích tôn thì đúng lúc, tiếng bà xã từ nhà bếp vọng lên, báo cổ bàn đã chuẩn bị xong xuôi giúp tôi tránh được câu hỏi “khó” của bọn trẻ liền đứng dậy, chỉ bày cho mấy cậu con trai sắp đặt cổ bàn đâu đó rồi từ tốn bước tới trước bàn thờ đốt mấy nén nhang, lâm râm khấn vái. Mùi trầm hương nồng đậm, nghi ngút tỏa lan khắp nhà nghe thật ấm Và bỗng dưng, cõi hữu hình và vô hình như đan quyện vào nhau. Quá khứ, hiện tại, tương lai như cùng lúc hiện diện. Trên bàn thờ tuy chẳng có tấm hình ai cả, bởi thời các cụ, tiệm chụp hình còn là của hiếm, nhưng nhìn lên, tôi thấy tất cả những người thân yêu đã mất như đang trở về sum họp đề huề giữa đám con cháu miền xa. Thời gian đã trở thành vô nghĩa. Tôi như đang là thằng bé loắt choắt bám sau đít ông nội ngày nào, chực chờ Người sai phái bảo ban…

Nguyên Đạt

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

 GIỌT GHI-TA

Giọt ghi ta rơi trong đêm
Mùa xuân, phòng người trinh nữ
Thức dậy một loài hoa dại
Hương xưa hình như đâu đây?

Giọt ghi ta chảy vào hồn
Huơng hoa quỳnh thơm nổi nhớ
Mùa cũ, đàn chim di trú
Mưa về rũ bóng hoàng hôn

Giọt ghi ta chẻ tim em
Nửa hồn gửi theo mây gió
Nửa ở lại với hương đêm

-1992-
Nguyễn Châu Niên

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

 MÙA XUÂN VÀ MẸ
- Tuỳ bút -

Sáng mồng một Tết, tôi đánh thức lũ trẻ dậy sớm, thay cho chúng những bộ áo quần đóng mới tinh tươm để chuẩn bị mừng tuổi Bà rồi đi thăm thú họ hàng nội-ngoại nhưng bất chợt phát hiện mẹ không có trong nhà. Tìm mãi mới thấy bà đang ngồi một mình trên bờ ao tận phía cuối vườn.
Bà ngồi đó, tấm lưng hơi còng xuống bởi gánh nặng thời gian. Bà đưa tay vuốt từng lọn tóc bạc trắng loà xoà trước trán, đôi mắt mờ đục thẫn thờ dõi nhìn về cõi xa xăm, có lẽ bà đang sống với sự hồi tưởng về quãng đời đã qua của mình... Trong khoảnh khắc không gian và thời gian ấy tôi mới cảm nhận ra: Cứ mỗi mùa xuân sang, trong khi con cháu được thêm một tuổi thì đồng thời mẹ cũng già thêm đi một tuổi; và như thế rõ ràng cái ngày tôi xa mẹ càng rút ngắn gần hơn. Có một chút gì man mác trong hương xuân mà tôi không thể lý giải rõ ràng được; hình như đó là một chút suy tư, một chút bâng khuâng, tiếc nuối, hay một chút nỗi niềm, xót xa ân hận bởi lâu nay hình như mình chưa quan tâm đúng mực đến tình cảm riêng tư của mẹ? Nghĩ tới đây, lòng tôi như nghẹn lại, đôi mắt đẫm lệ nhìn người với một trời thương nhớ mênh mang.
… Tuy sinh ra trong cảnh nhà nghèo nhưng tôi may mắn được trải qua tuổi ấu thơ hồn nhiên vô tư trong vòng tay hòa ái và tình yêu thương bao la của mẹ. Từ mẹ, tôi học được đôi chút quán xuyến đảm đang nhưng phải tội, tôi thường qúa ham vui mà quên đi lời mẹ dặn. Mỗi khi giận con, mẹ rất ít khi trách mắng nặng lời, chỉ cặm cụi làm việc hoặc âm thầm lặng lẽ ngồi khóc một mình mà mãi sau này tôi mới biết; đôi lúc tôi cũng tỏ ra ân hận bởi những lỗi lầm mình đã gây ra cho mẹ nhưng rồi vẫn chứng nào tật ấy, và cũng chưa bao giờ biết nói một lời khôn khéo để xoa dịu nỗi niềm khổ đau của mẹ. Với tôi thuở ấy chỉ nhớ đến mẹ khi nào bụng mình thấy đói hoặc cần ít tiền mua quà, hay sắm sửa một món đồ chơi… vv… Đáng trách hơn nữa, không ít lần tôi đã nhận những bộ áo quần mới sạch sẽ tinh tươm với vẻ mặt tỉnh bơ không cần tự hỏi trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, mẹ đã vất vả chạy vạy thế nào cho con luôn được sướng vui; chỉ khi lớn lên có chồng con, tôi mới thấy được người mẹ đã phải lao nhọc biết bao để lo toan cho con cái; nhất là vào những lúc trái gió trở trời chúng bị sốt cao phải nằm bệnh viện. Giữa đêm hôm khuya khoắt ngồi một mình đếm từng giọt nước biển nhỏ vào cơ thể đứa con thơ, cầu sao cho nó qua khỏi cơn nguy kịch mới thấm thía tình mẹ. Ôi. Tình mẹ bao la. Trái tim của người tuy nhỏ bé nhưng có rất nhiều chỗ dành cho con như đôi cánh của một con gà mái có thể dang ra che kín đàn con bé dại, vậy mà trong trái tim con hình như chưa có chỗ nào để dành cho riêng mẹ cả. Mẹ ơi?! Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con. Khi đang ăn mà con “tháo dạ” cũng phải buông đũa đứng dậy. Nửa đêm dù mỏi mệt, nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, cất tiếng à ơi vỗ về cho con thơ trở vào giấc ngủ yên bình. Sao bây giờ con vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ!

Ở đời, có ba điều người ta thường mong ước là Phước, Lộc và Thọ. Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du mà Thọ chưa hẳn đã là may mắn. Tuổi thọ đúng là một ơn Trời, nhà nào có cha mẹ tuổi thọ cao là một phúc đức lớn cho gia đình, không những của chính người cao tuổi mà cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Mình đã là một đứa con hiếu thảo với mẹ chưa nhỉ?!

Ôi! Nói sao cho hết lòng mẹ thương con. Mẹ là bóng mát của lũy tre làng, là khói lam chiều hoàng hôn nơi thôn dã, là những kỷ niệm êm đềm thuở ấu thơ. Tình mẹ là vậy: Tận tuỵ, vắt hết hơi sức hy sinh một đời vì con mà chẳng đòi hỏi điều gì. Mẹ là thế đấy: Hào phóng ban phát hết cái gia tài của mình là lòng thương đầy ắp không vơi. Mẹ có nghĩa là tất cả. Là cho đi không nhận lại bao giờ…Tôi khẽ khàng dẫn mấy đứa con tiến đến bên bà định mừng tuổi nhưng thấy mấy ngón tay bà đặt trên đầu gối run run, lòng tôi như chùng lại… Ôi! Có đúng là “Mừng” không, khi thời gian đang mỗi ngày một vắt kiệt sức lực mong manh của bà?! Rõ ràng tuổi tác như đang đẩy bà xa dần với cuộc sống, xa dần với đám cháu con mà bà hằng quý mến yêu thương. Sao lại gọi là “Mừng” nhỉ?
Một chiếc lá vàng đột ngột lìa cành, nó hụt hẫng, chơi vơi làm trò tàu lượn giữa không trung một hồi lâu như lưu luyến trước khi sà xuống mặt nước lăn tăn dợn sóng để xuôi chảy theo dòng. Đôi mắt tôi chợt cay xè giữa nắng ấm đầu xuân, thầm thì gọi mẹ: Mẹ ơi! Mẹ ơi…!

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Tự Tình Tuổi Sáu Mươi

Khi mình tuổi sáu mươi
Tâm hồn ưa thay đổi
Buồn vui thường vô lối
Không thấy nẻo đi-về
Ngày cứ dài lê thê
Đêm mối sầu vạn cổ
Chập chờn ru giấc ngủ
Cho mây núi giăng mùng

Khi mình tuổi sáu mươi
Thời gian là nỗi nhớ
Khung trời quê một thuở
Bao kỷ niệm dấu yêu
Mải mê với cánh diều
Giữa trời cao lồng lộng
Tuổi thần tiên thơ mộng
Ôi quá đỗi thân thương

Khi mình tuổi sáu mươi
Tháng năm như chững lại
Chuyện nhân tình thế thái
Thôi đừng quá bận tâm
Tìm thú vui thanh bần
Bên chung trà chén rượu
Cùng bạn bè thân hữu
Xướng hoạ vịnh thơ ca
Cuộc sống vui chan hoà
Tâm hồn luôn thư thái

Nguyên Đạt

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

NGUYÊN ĐẠT - Những bài viết của Bạn bè

Phú Yên - Đất & Người > Người Phú Yên
19 Tháng Giêng 2006 5:49 CH (GMT+0700)



Ngườ Thổi Sáo Dưới Trăng


*Gần một phần tư thế kỷ nay ông gắn bó với đêm thơ Nguyên tiêu, từ khi chương trình này xuất hiện ở Thư viện Hải Phú cho đến khi được tổ chức trên đỉnh núi Nhạn lộng gió. Ông ngồi khiêm nhường ở một góc sân khấu, đầu đội mũ bê-rê, ống sáo thanh mảnh trong tay. Những vần thơ vút lên, quyện với tiếng khoan nhặt của đàn tranh, tiếng thủ thỉ của đàn bầu. Bữa tiệc thơ trở nên lung linh sống động.


Ít ai biết rằng chủ nhân của tiếng sáo trong trẻo ấy, con người thanh thanh và lặng lẽ ấy đã ôm ấp một khát vọng đã vỡ tan, đã nếm trải đắng cay, đã từng mất lòng tin vào cuộc đời...
Mỗi mùa xuân đến, người ta lại gặp Nguyên Đạt. Đúng hơn là gặp tiếng sáo của ông, khi mỏng tang như một làn sương bay lên rồi tan biến trong những vòm lá của công viên Diên Hồng, khi réo rắt quyện vào ánh trăng Nguyên tiêu trên đỉnh Nhạn Tháp. Tiếng sáo bay lên, mang theo những buồn vui khổ hạnh, những cảm xúc, tâm tình. Khi ấy, ông mới thực là ông.
Nguyên Đạt chơi nhạc, làm thơ và viết truyện. Năm nào trang thơ của đặc san xuân cũng có bài của ông. Thi thoảng, ông viết tạp bút. Tập truyện ngắn Bên khoảng đời khát vọng xuất bản vào giữa năm 2000 làm không ít người bất ngờ. Lần giở từng trang sách, bầu bạn càng bất ngờ hơn khi nhận ra ông viết về chính cuộc đời mình, về khát vọng “bục giảng, bảng đen, phấn trắng” được nuôi dưỡng từ thuở bé thơ đã bị vỡ tan vì những định kiến nghiệt ngã.

Năm 1968 Nguyễn Dạc tốt nghiệp trường Sư phạm QuiNhơn, trở thành ông giáo tiểu học ở huyện Tuy Hòa, gắn bó với bục giảng tới năm 1983, ông bị cơ quan cho nghỉ việc với lý do "không đủ tiêu chuẩn vào biên chế chính thức". Từ cái hụt hẩng bất ngờ tưởng chừng như phi lý đó, ông bỗng nhiên cảm thấy mất mát lòng tin ở tình người, ở cuộc sống.

Từ một thầy giáo, ông trở thành “chú bán trứng vịt lộn” trên sân ga Tuy Hòa hằng ngày để mưu sinh. Nỗi buồn, sự chờ đợi được lưu dụng để rồi thất vọng cũng chật cứng như những chuyến tàu chợ ra vào ga khi ấy.
Ngày nọ, đang bán trứng vịt, Nguyên Đạt tình cờ nghe chương trình ngâm thơ trên sóng phát thanh. Tiếng thơ, tiếng đàn tranh làm cảm xúc dâng lên như thủy triều. Ông liền về nhà đem sáo ra thổi. Nhiều người dân trong cái xóm nghèo cứ ngỡ ông bị … thần kinh!
Chuyện người bán trứng vịt lộn biết thổi sáo ở xóm Ga tình cờ đến tai ông Dương Thái Nhơn, giám đốc Thư viện Hải Phú, khi ông đang kiếm tìm một “sáo sĩ”. Nguyên Đạt đến với đêm thơ Nguyên tiêu như thế, từ khi chương trình này mới đôi ba tuổi, tổ chức tại thư viện và chỉ có một giọng ngâm là chị Ngọc Hà.
Tuổi thơ của ông gắn với cái tên Cư Lạc, một làng nhỏ nằm bên bờ phá Tam Giang. Cha mẹ theo những con thuyền ngược xuôi buôn bán, Nguyên Đạt ở nhà với ông bà nội. Chính ông nội đưa Nguyên Đạt làm quen với cây sáo trúc, tập thổi bài đầu tiên là Kim Tiền-Lưu Thủy u liêu xề cống liêu… Đi qua tuôỉ thơ, dòng đời đưa đẩy ông bằn bặt xa làng Cư Lạc. Thời trai trẻ, đã có lúc ông say mê cây đàn điện tử mà lãng quên tiếng sáo. Nhưng rồi cùng với thời gian, ông ngộ ra người bạn tri kỷ của mình và nhớ lời dặn dò năm xưa của nội: Luôn giữ cho tiếng sáo tinh sạch, thanh tao…
Nguyên Đạt chơi được đàn bầu, đàn tranh song thân thiết nhất vẫn là những cây sáo trúc mà ông tự làm lấy. Người ta biết đến ông như là một nhạc công không thể thiếu trong các chương trình ngâm thơ. Ở thành phố nho nhỏ và không mấy ồn ào này, Nguyên Đạt là một “sáo sĩ” được nhiều người yêu mến, sau hơn 20 năm chung thủy với đêm thơ Nguyên tiêu.
Tên ông lẽ ra là Nguyễn Nhạc, do ông nội đặt cho. Đi làm giấy khai sinh, người ta nghe nhầm, ghi thành Nguyễn Dạc. Cái tên không như ý, đời ông cũng có những ngả rẽ không như ý. Nhưng chí ít, ông cũng tìm được hạnh phúc bình dị trong niềm đam mê âm nhạc, trong sự đồng cảm và trân trọng của người bạn đời và bầu bạn. Mỗi dịp hội thơ, từ một góc khiêm nhường trên sân khấu, với chiếc mũ bê-rê quen thuộc đội đầu, ông dốc hết lòng mình vào tiếng trúc. Những âm thanh dìu dặt, réo rắt bay lên. Những buồn vui, khổ hạnh bay lên. Chỉ còn tình thơ, ý nhạc trong chếnh choáng trăng vàng.

LÂM VY

Sáo sĩ Nguyên Đạt
Thứ hai, ngày 19 tháng năm năm 2008

Người thơ đệm sáo đỉnh trời…

Bài và ảnh Đức Tuấn

Vậy là Hội thơ Nguyên tiêu truyền thống núi Nhạn (Phú Yên) vào xuân Đinh Hợi này liên tục là lần thứ 27; và núi Nhạn có lẽ là ngọn núi thơ nổi tiếng nhất nước, với kỷ lục thi hữu và bát ngát công chúng mến mộ hiếm thấy. Hơn một phần tư thế kỷ, thơ được đưa lên đỉnh núi Nhạn (thành phố Tuy Hòa), trong nhiều ấn tượng đọng lại, có dáng hình hao gầy của một nghệ sĩ đệm sáo; đôi khi thần sắc anh nghiêng ngã thả trọn theo tiếng sáo thơ, tôi chợt nhận ra dường như anh đã quên bẵng là đang biểu diễn trước ngút ngàn công chúng yêu thơ hiếm thấy của xứ sở cuối dòng sông Ba…
Người đó là Nguyên Đạt, một người viết văn, một “sáo sĩ” điêu luyện luôn đau đáu chuyện làm đẹp thêm cho thơ để đưa đến người thưởng thức. Anh còn là một người viết văn, làm thơ khá chuyên nghiệp… Nguyên Đạt tên thật là Nguyễn Dạc, sinh năm 1946 tại Quảng Điền (Sịa)- Thừa Thiên Huế, phiêu bạt đến Phú Yên dạy học và lập gia đình quá nửa thế kỷ rồi nhưng chất giọng, dáng nét vẫn còn rặt chất người của phá Tam Giang. Người truyền nghề thổi sáo cho anh khi còn ở quê lúc mới lên mười chính là ông nội, với mong mỏi đứa cháu “luôn giữ gìn cho tiếng sáo tinh sạch, thanh cao”. Sau này, trong tập truyện ngắn Bên khoảng đời khát vọng (NXB Trẻ, 2000), Nguyên Đạt viết: “Dưới ánh trăng thượng tuần còn mờ nhạt không đủ soi rõ mặt người của một đêm hè oi ả, nội và tôi ngồi trước sân nhà say mê luyện tập bài sáo đầu tiên u liêu xề cống liêu - u xang ú lưu cống lưu xề - cống lưu công xê xàng xự xàng xê... Quá nửa đêm một chút thì tôi hoàn thành bài sáo nhập môn “Kim tiền-Lưu thủy…” (Truyện Dòng sông thơ trẻ). Thế rồi từ đó chiếc sáo trúc đã gắn bó yên ủi vỗ về đời anh trên bước đường luân lạc. Năm 1968, tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, Nguyên Đạt vào Tuy Hòa (Phú Yên) dạy học gần suốt 20 năm. Nhưng rồi anh buộc phải từ giã cái nghiệp dạy học vì lý do không đủ tiêu chuẩn vào biên chế chính thức...(?). Tiếng sáo và văn chương lại như được dịp bùng phát réo rắt, dịu xoa niềm tiếc nuối của đời anh, nhất là những ngày gian khó của thời bao cấp mà lại bị mất việc làm. Những năm tám mươi của thế kỷ trước, cả nhà anh phải tần tảo đủ nghề buôn thúng bán bưng, trong đó, “ông giáo bán trứng vịt lộn” đã được bà con xóm ga Tuy Hòa gắn cho anh hiện vẫn chưa trôi vào quên lãng. Anh làm thơ, viết truyện ngắn và tạp văn khá nhiều vào giai đoạn này nhưng nỗi nhớ nghề sáo và những đêm thơ thời sinh viên, đi dạy vẫn thao thức không nguôi. Nguyên Đạt nhớ lại một chiều ngồi bán trứng, chợt nghe loa truyền thanh phát chương trình thơ, thế là tiếng đàn tranh – sáo – thơ đã làm anh mất ngủ, ngồi bờ hè thổi sáo suốt đêm… Sáng mai, anh xách sáo đi tìm bạn. May vợ anh cũng là một cô giáo yêu nghệ thuật, chị với theo: “Ừ, anh đi tìm đi…”…
Và người đưa Nguyên Đạt đến với đêm thơ Nguyên tiêu Phú Yên là anh Dương Thái Nhơn (Giám đốc Thư viện tỉnh) và nhà thơ Nguyễn Tường Văn (Biên tập chương trình văn nghệ Đài Phát thanh Phú Yên). Ấy là năm 1989, khi Phú Yên vừa tách với Khánh Hòa, chương trình thơ của Đài tỉnh đang thiếu những giọng ngâm và những người đệm thơ. Thế là lò của quý gồm sáo trúc Nguyên Đạt, đàn bầu Mai Hoàng, đàn tranh Hoàng Hường, ngâm sĩ Ngọc Hà, Vân Phí, Bích Trâm,Thu Thủy… đã có đất dụng võ. Nhưng có lẽ những đêm thơ Nguyên tiêu trên đỉnh núi Nhạn mới thực sự tỏa hết cái hồn của Nguyên Đạt với cây sáo trúc. Theo anh, đó là niềm cảm hứng cộng hưởng và giải bày giữa những người đồng điệu, giữa đất trời thiêng liêng. Đó mới là chỗ của sáo trúc, đó mới là chỗ của thơ, thơ và sáo đã dìu nhau, làm đẹp cho nhau qua bước đường trập trùng mây núi… Bây giờ, đã hơn hai mươi lăm năm rồi, tiếng sáo Nguyên Đạt là một phần hiển nhiên của Hội thơ Nguyên tiêu đỉnh Nhạn – nơi là một yếu tố góp phần đưa đến quyết định của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày Thơ Việt Nam; sau tham luận tha thiết của nhà văn Nguyễn Gia Nùng trên tạp chí Nhà văn năm 2002; “Thơ Nguyên tiêu mở ra khắp nước-Phú Yên ta đi trước nhiều năm” (Khuyết danh)... Và như nhiều danh sĩ nhận xét, thật hiếm nơi đâu mà tất cả các huyện, thành trong tỉnh đều được liên tục đứng ra tổ chức các đêm thơ xuân truyền thống với đầy ắp sự trân trọng và bát ngát công chúng yêu thơ. Chẳng những thế, tại nhiều cơ quan, trường học, xã phường, xóm ấp,… những buổi thơ xuân, bình thơ, ngâm thơ vẫn đều đặn diễn ra với một sự mộ điệu khó tả. Một hồn sáo, hồn thơ của người con đất Huế như Nguyên Đạt lại được đất bay bổng muôn trùng. Thực sự, trong những ngày xuân này, nghệ sĩ sáo nhà ta đã phải “chạy sô” không ngớt, khi thì Sơn Hòa, đêm mai đã Sông Cầu, đêm mốt đã Đồng Xuân, rồi khép lại mùa thơ xuân bằng Nguyên tiêu Nhạn Tháp. Chữ “chạy sô” tôi phải đặt trong ngoặc là vì hầu như những đêm thơ này không có cát-xê, đôi lúc chỉ vài chén rượu, chẳng cần lời cảm tạ,...
Còn chuyện vui buồn nghề thổi sáo cho những đêm thơ, Nguyên Đạt xin tôi đừng nhắc, “âu cũng là cái nghiệp cầm ca…”, anh âm trầm. Nhiều lúc buồn, anh đã định đập sáo, nghỉ chơi nhưng rồi làm sao cưỡng lại mệnh trời, cưỡng được cái nghiệp dĩ? Trò chuyện cùng tôi, anh nhắc nhiều đến người bạn cố tri Nguyễn Văn Phương (Phương Xích lô) với những câu thơ tặng trước khi mất: “Nguyên tiêu tìm về núi Nhạn - Để như chim nhạn ngày xưa - Tháp Chàm hóa thành tổ cũ - Khói hương tỏa ấm hồn thơ

Đã có quá nhiều thi sĩ lừng danh ghé qua Tuy Hòa để một lần được lên núi Nhạn đọc thơ, để “Ai chưa tin vào sức mạnh của Thơ không gì thay thế/Xin hãy về với Hội Thơ núi Nhạn đêm nay”. Và rồi nửa thế kỷ thơ lên đỉnh Nhạn, ai còn ai nhớ tiếng sáo của chàng Nguyên Đạt, người chuyên làm đẹp cho thơ, cho bạn bầu thi hữu, khách tri âm giữa đất Phú trời Yên lồng lộng gió sông Ba…
Gặp lúc Nguyên Đạt đang khấp khởi với tập truyện ngắn thứ 2 “Món quà từ trái tim” vừa ra khỏi nhà in. Ông âm trầm: “Hồi xưa là đi dạy, bây giờ “chuyên nghề” là viết văn, làm thơ và thổi sáo. Nguyên tiêu này, tôi lại lên núi dìu thơ; tôi còn thổi sáo cho Hội Thơ này đén khi nào… xuôi tay”.
Đào Đức Tuấn

Tin tức > Giải trí > Sách báo - Văn thơ
Người thổi sáo đêm thơ núi Nhạn
Xem tin gốc
Tuổi Trẻ - 20 tháng trước 112 lượt xem

Người Thổi sáo đêm thơ Núi Nhạn

TT - Nếu như đêm thơ Nguyên tiêu của Phú Yên tròn chẵn 30 năm, thì Nguyên Đạt là người đã có 28 năm mang tiếng sáo hòa nâng tiếng thơ. Bởi từ khi đêm thơ Nguyên tiêu của Thư viện Hải Phú (Tuy Hòa, Phú Yên) quyết định mang ra trình diễn trước công chúng (1983) thì Nguyên Đạt là người được mời đến để lo liệu phần âm thanh.
Lúc này Nguyên Đạt đang là “ông vịt lộn” ở ga Tuy Hòa, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng trước lời mời nồng hậu ấy.
Nguyên Đạt người gốc Huế, vào Tuy Hòa dạy học từ năm 1968-1983, sau đó thôi dạy lên ga làm nghề bán trứng vịt lộn kiếm tiền nuôi con. Ở ga Tuy Hòa nhiều người còn nhớ hình ảnh một “ông vịt lộn” với chiếc xe đạp cà tàng, đi đâu cũng vắt cây sáo bên người.
Nguyên Đạt kể ông được ông nội truyền dạy thổi sáo khi còn rất nhỏ, là niềm tự hào của ông nội vì chỉ mình ông là học được những điệu sáo hay và khó nhất. Khi trưởng thành, bôn ba giữa cuộc đời, Nguyên Đạt vẫn không rời cây sáo. Ông tâm sự: “Mình sống được là nhờ tiếng sáo. Từ thổi sáo, mình đọc thơ rồi lại làm thơ. Với tiếng sáo, lúc nào niềm cảm hứng cũng như thuở ban đầu, chỉ vì thơ chứ không vì một điều gì khác”.
Những ống sáo của Nguyên Đạt đều do ông tự chế tác nên dễ điều khiển theo giọng cao thấp. Lại là người am hiểu làn điệu nên Nguyên Đạt biết chọn người, biết bài nào nên hòa theo điệu Huế, giọng Băc hay ngâm sa mạc, ngũ cung hoặc dựa theo làn điệu dân ca...
Nhưng Nguyên Đạt không phải là người thổi sáo thuần túy, ông còn làm công việc của một người đi tìm giọng đọc, giọng ngâm cho từng tác giả, từng bài thơ. Nghe ở đâu có người yêu thơ, có giọng ngâm, giọng đọc hay là Nguyên Đạt đạp xe đến tìm, rồi thử giọng, rồi cùng nhau luyện tập.
Từ đó hình thành nên nhóm Hương Phú, ngoài Nguyên Đạt còn có Ngọc Hà, Vân Phi, Bích Trâm, Thu Thủy, Hoàng Hường, Túy Ba, Nguyễn Đình Quảng, Nguyễn Đình Phú, Phan Kim Việt... Đây là nhóm nhạc cây nhà lá vườn đồng hành cùng đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn suốt từ bấy đến nay.
Mấy năm nay Nguyên Đạt theo con cái định cư ở Mỹ, nhưng vẫn cố gắng trở về để tham dự đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn, vẫn hòa tiếng sáo nâng tiếng thơ như không hề có gánh nặng tuổi tác trên vai. “Mình muốn làm người tình chung thủy của đêm thơ núi Nhạn, dẫu có ở góc biển chân trời nào” - Nguyên Đạt nhỏ nhẹ tâm tình như vậy.
Nhìn người đàn ông dáng cao gầy, mái tóc bạc trắng, ánh mắt lấp lánh niềm vui ấy; chợt mường tượng hình ảnh một “ông vịt lộn” ngoài ga Tuy Hòa, hay một người đang đạp xe phất phơ trong gió nắng đồng quê với cây sáo vắt bên người. Và thấy rõ nhất là hình ảnh một nghệ sĩ thổi sáo mê đắm dưới ánh trăng rằm bên tháp cổ Champa trên đỉnh núi Nhạn hào phóng gió.

Việt Quê - Báo Tuổi trẻ