CHIỀU
MUỘN
Truyện ngắn-Nguyên Đạt
Họ cùng học chung lớp Đệ Tam
C. Họ quen và yêu nhau một nửa năm sau đó, rồi cưới nhau khi cả hai cùng vượt
qua kỳ thi Tú Tài bậc Trung học. Một căn phòng nho nhỏ xinh xinh, một quán
cà-phê “cóc” nằm dưới gốc me già cuối
phố cũng vừa đủ cho cặp vợ chồng son trẻ thoả nguyền mong ước. Vài năm sau, hai
bé gái đẹp như búp bê lần lượt ra đời góp thêm tiếng cười trong gia đình vốn đã
ắp đầy hạnh phúc. Bạn bè, đứa nào cũng mừng giùm cho họ…
*
Chính cái dáng dấp quê đặc
của cậu chàng làm Quỳnh Thư chú ý. Trong khi cả lớp đứa nào cũng ăn mặc tinh
tươm, đi giày đế “quya”, chải đầu
láng mướt thì hắn ngược lại, chẳng có chút khái niệm gì về cách phục sức, áo
quần luộm thuộm, bộ dáng lúc nào cũng lóng nga lóng ngóng, trông… ngô ngố (dễ
ghét) làm sao ấy! Rồi lại thêm thỉnh thoảng lại biến khỏi lớp học dăm ba bữa,
đôi khi suốt tuần. Mỗi lần như thế, bố mẹ hắn phải khăn đen áo dài tới trường năn
nỉ ông hiệu trưởng hết nước miếng, ông ta mới thể tình chấp thuận cho vào học
lại. Bạn bè có đứa tò mò hỏi chuyện: “Này! Lâu lâu cậu lại biến đi đâu mất tăm vậy?”
thì hắn trả lời giọng tỉnh bơ:
-Đi Sài Gòn để hưởng cái thú
tha hương, và thêm một chút thú… đói rách cho vui ấy mà.
Câu nói ngang phè, có phần
hơi tối nghĩa của hắn khiến đám bạn bè nhao nhao lên tiếng:
-Hừ! Hưởng thú tha hương thì
cũng được đi. Còn cái chuyện hưởng “thú”
đói rách thì… quả là mình không thể nào hiểu nổi!?
-Gì mà không hiểu. Có đói
rách thì mới có nhiều cảm hứng để sáng tác, mới thai nghén được nhiều tác phẩm hay chứ.
-À thì ra thế? Vậy những
sáng tác của cậu đã gởi đi đâu, và có tờ báo nào chịu in chưa?
Hắn trả lời tắp lự:
-Ừ. Tớ gởi cũng khá nhiều
báo. Nhưng… -Hắn nhoẻn miệng cười buồn: “Nhưng hình như vẫn còn nằm nguyên ở… hòm
thư ấy” (!?).
Bạn bè mỉm
cười dè bĩu, cho hắn là anh chàng hâm, kháo nhỏ:
-Ừ. Hắn ta muốn trở thành
nhà Văn đấy “mình” ạ! Nhưng theo tao, có lẽ cả đời, hắn chỉ sáng tác được duy
nhất mỗi cái bút hiệu Phạm Mặc Tường Ly
Sơn trình làng là cùng.
Một tối, Quỳnh Thư lục cặp
chuẩn bị bài vở cho sáng hôm sau, bất đồ thấy một tập giấy thò ra, rơi xuống sàn
nhà; nàng cúi lượm, rồi tò mò mở ra xem, và trố mắt thích thú: một cặp bướm
ngài được ép khô tuyệt đẹp, nằm châu đầu vào nhau trên tờ peluyafor trắng tinh.
Nàng trầm trồ xuýt xoa: “Ồ!
Lùng sục khắp cả vườn hoa Đại Nội chắc gì kiếm được đôi bướm nào quý hiếm hơn
cặp bướm này nhỉ?” và tiếp tục đọc hàng chữ bằng mực tím nắn nót chua bên dưới:
“Nếu chỉ một mình thì đời sẽ buồn thiu
hiu quạnh. Nhưng có hai mình, đời sẽ chẳng còn quạnh vắng buồn hiu. Quỳnh Thư
nghĩ sao nhỉ”?
Vậy là cái anh chàng cà
ngáo, ngu ngơ kia lọt cái rụp vào đôi mắt xanh của cô nàng nổi tiếng kiêu sa
nhất lớp.
*
“Cuộc Tình Bướm” đã cho Sơn
những bước tiến thăng hoa, đã gợi mở, chắp cánh cho ngòi bút của anh bay tới những
miền trời trăng sao sáng rỡ. Lần hồi Sơn cũng đã khẳng định cho mình được một
chỗ đứng trong làng thơ ca, văn học. Một số tác phẩm của anh đăng ở tạp chí địa
phương, một số khác được in ở tờ Văn nghệ thành phố và mấy tờ báo hằng ngày…
Hôm hoàn thành tác phẩm đầu
tay có cái tên “Hoa Bươm Bướm” mà anh
chắt chiu trìu mến qua nhiều năm tháng, đám bạn bè hùn nhau tổ chức một đêm thơ
ra mắt giùm Sơn. Chính Quỳnh Thư, vợ anh lôi chiếc đàn tranh (quà tặng của mẹ
thời còn đi học) phụ đệm cho các ngâm sĩ diễn đạt và minh hoạ những bài thơ (đứa
con tinh thần) của anh với đám bạn bè, thân bằng quyến thuộc ở Câu lạc bộ Văn
Hoá-Văn nghệ Thành phố.
Ngồi khuất sâu ở góc tối
cuối phòng, Sơn say sưa thụ hưởng niềm vui, mặc cho trí tưởng chập chờn lang
thang với mây ngàn gió núi mà bụng thầm mong sao nhịp đời cứ mãi mãi trôi xuôi
như dòng suối nhỏ yên bình, không phải băng qua biển cả thác ghềnh phong ba bão
táp. Nhưng… Liệu có được chăng khi đời vốn
luôn luôn đỏng đảnh, chẳng chịu nuông chìu bất cứ một ai (!?). Bỗng dưng, Sơn
cảm thấy bàng hoàng với cái dự cảm bất tường vừa thoáng qua tâm trí.
*
… Dòng đời vẫn tuần tự đi
qua trong mông muội của cuộc sống; ngày vui cứ tiếp nối những ngày vui, các Văn
nhân, Thi sĩ tấp nập rủ nhau mang theo thơ phú với những câu chuyện (trên trời
dưới đất) làm quà ghé quán “cà phê cóc”
của đôi uyên ương ngày một đông đảo hơn. Họ nghiễm nhiên coi cái góc riêng này
như một nơi dành riêng cho những “tâm hồn lớn” gặp nhau để bù khú, và tán gẫu.
Rồi một ngày đẹp trời, Toàn,
người bạn thân của vợ chồng Sơn theo đà câu chuyện đẩy đưa:
-Anh Sơn à! Chị Quỳnh Thư đàn
có nghề lắm! Đêm Thơ-Nhạc của anh thành công phần lớn cũng do ngón đàn tuyệt
diệu của chị ấy đấy. Hay là…
Toàn nở một nụ cười (cầu
tài) gợi ý: “Hay là mình tổ chức một Câu lạc bộ gồm toàn nghệ sĩ chơi nhạc cụ
dân tộc đi. Chị Quỳnh sẽ có cơ hội bộc lộ hết tài năng của mình. Chắc hết ý đấy
nhé”!!?
-Eo ôi! Tôi mà biểu diễn gì?
-Quỳnh Thư bụm mặt kêu lên: “Ngượng chết đi được”.
-Rồi sẽ quen thôi chị ạ.
Thời buổi bây giờ, các nhà hàng, khách sạn, người ta toàn chơi nhạc giựt, khiêu
vũ ầm ĩ cả lên; không chừng loại hình thơ ca, dân nhạc (tìm lại cội nguồn) như
mình lại trở nên đắc địa, thu hút nhiều khách làng thơ và khán-thính giả cho mà
xem.
Quỳnh Thư ngước mắt nhìn Sơn
dò hỏi, cười cười thú vị, có vẻ như đã hơi xiêu lòng, nhưng vẫn ngần ngại:
-Nhưng…
-Không nhưn-nhị gì hết. -Toàn
cướp lời: “Hãy đến chỗ tôi đi. Anh chị thử nghĩ coi, cái quán cóc liêu xiêu thu
nhập nhì nhằng này lấy gì cho cả nhà đủ sống? Với lại, hai cháu Thục Oanh và
Diễm Hương rồi đây tuổi lớn, biết bao nhu cầu thiết yếu khác sẽ phát sinh, khi
đó lấy gì để cung ứng cho các cháu ăn học. Anh chị thấy sao hả?
Thế là từ
đó, đêm đêm nhà thơ Mặc Tường Ly Sơn cắm cúi đèo vợ trên chiếc xe đạp cà tàng
đi làm việc. Quả nhiên, Câu lạc bộ Thơ-Nhạc Dân ca có vẻ ăn nên làm ra, khách
thưởng thức lui tới ngày càng đông. Thỉnh thoảng Câu lạc bộ còn nhận đi biễu
diễn những show ở nhà hàng cho khách
nước ngoài xem, thu nhập cũng bộn. Nghệ sĩ đàn tranh Quỳnh Thư đã nổi tiếng.
Đêm đêm, trong sênh phách mơ hồ, khách làng chơi đã quen lệ tới Tụ điểm âm nhạc
thưởng thức thơ ca và ngón đàn điệu nghệ của kiều nữ Quỳnh Thư, say mê dõi theo
dáng hình thon thả, lưng tựa bên rèm với mái tóc óng ả mượt mà chảy dài trên
cần phím, tuôn ra những âm điệu réo rắt, trầm buồn ai oán như lời người cung nữ
một đời bị bỏ quên sau lưng điện ngọc, để cảm thương, để nhung nhớ, để tơ tưởng,
và… để rưng buồn giữa “đêm dài lắm mộng”. Ôi!
Lênh đênh mười sáu dây tình
Mới nghiêng cánh nhạn đã thành câu rao
Gió mưa nương náu dây nào
Tình anh sao bỗng lạc vào nước mây?!? (*)
Hào quang của sự thành công
làm Quỳnh Thư tự đánh giá lại mình, nhìn lại người, rồi cảm thấy chồng mình tầm
tầm thế nào ấy. Dần dà nàng đâm ra ngượng ngùng khó chịu trước cái tuềnh toàng
chân chất của Sơn, một con người ngây ngô, luôn dững dưng trước cảnh đời thực
dụng.
Thấy Sơn vất vả, Toàn chủ
động đề xuất để mình dùng xe gắn máy đón đưa Quỳnh Thư giúp, vừa nhanh gọn, vừa
thuận lợi cho công việc hơn. “Vậy cũng được”! Sơn lẩm bẩm đồng ý. Mặt hồ vẫn còn
như bình lặng; nhưng… dường như đâu đó đã gợn lên vài dợn sóng lăn tăn; anh mơ
hồ liên tưởng…
*
… -Chuyện là vậy đó anh à! -Quỳnh
Thư vùi trong tiếng khóc dã dượi tấm tức: “Em đã qúa lạt lòng không cưỡng nổi
để xảy ra cơ sự. Em có “tội” với anh. Em van anh, hãy tha… tha thứ cho em”.
Sơn câm nín một lúc lâu,
không biết phải nói gì với vợ; chuyện đời trần trụi đột nhiên phơi bày trước
mắt khiến anh sững sờ bãi hoãi, chưa tin đó là sự thật. Lặng nhìn bóng nắng
cuối ngày vật vờ leo dần bên ngoài cửa sổ, Sơn tự hỏi: “Ôi! Sự thực lại cay
đắng nghiệt ngã đến thế này ư”?! Trong liền gần cả chục năm nay, vợ chồng anh
đã được mọi người hâm mộ tán dương, cho là một cặp đôi hạnh phúc nhất đời; vậy
mà giờ đây, nàng đang ngồi trước mặt anh với lời thú tội, những lời thú tội (sống
sượng) đến không thể nào tin được.
Anh quay sang vợ, cố giữ
bình tĩnh, trầm giọng hỏi:
-Vậy bây giờ em tính sao?
Như đã chuẩn bị sẵn đâu đó
từ trước, Quỳnh Thư chăm bẵm trả lời:
-Phải xa nhau thôi anh ạ!
Mình không thể tiếp tục sống với nhau trong mặc cảm được anh ạ.
-Vậy mấy đứa con của mình?
Không lẽ để chúng phải…
-Đành vậy thôi. Em sẽ cố để
dành tiền gởi về cho anh sinh sống và nuôi con.
-Không…! -Sơn bức bối hét
lên: “Tôi không cần tiền. Tôi và con chỉ cần em. Có em thôi”! Rồi ôm mặt nức nở
khóc vùi…
*
Vậy là nàng đã ra đi. Anh
biết nàng muốn ra đi nên không buồn cầm giữ, nếu muốn ở lại, nàng cứ giữ tình
trạng mập mờ, anh nào hay biết. Thôi, ít ra nàng cũng có lòng trung thực nói ra
việc mình làm, không lừa dối anh.
Sơn trải qua những ngày
tháng thật nặng nề và bi thảm, tâm hồn anh hoàn toàn trống vắng hoang vu như
con thuyền không bến đậu. Anh muốn buông xuôi tất cả trong men say, tới đâu thì
tới; nhưng rồi mỗi ngày lại xảy ra cái chuyện cơm-áo-gạo-tiền, mỗi ngày lại
phải đối diện với vô khối chuyện sĩ nhục của cuộc sống trước mắt khiến anh phải
bận tâm. Anh biết mình không thể mãi hoài bước đi trên con đường hiu quạnh mà
phải tìm ra một lối thoát, chí ít cũng tránh cho hai đứa con gái tội nghiệp của
mình vốn đã đau buồn vì thiếu mẹ, nay lại phải gánh thêm những thương tổn của tâm
hồn.
Thế rồi với chiếc mũ nồi
nghễu nghện trên chiếc đầu bù rối, với bài “Xích lô hành” lận túi bên lưng, Sơn
lượn lờ khắp nẻo đường phố xá kiếm kế sinh nhai:
Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Về đây sau một kiếp giang hồ
Thợ không ra thợ vì cô thế
Thầy chẳng ra thầy bởi lỡ cơ
… Ta xích lô hề! Ngươi xích lô
Đạp cho xong hết một đời phu
Chở đau thương về cùng nghĩa địa
Chở hạnh phúc về với tuổi thơ (**)
*
Đêm trăng ngời ngợi, nền
trời trong xanh, xanh thẳm như được chiếu sáng đến tột cùng giữa một đêm hè thanh
quang thoáng đãng. Anh lại tìm về nơi chốn kỷ niệm ngày xưa. Cũng tại chỗ này,
cũng vào một đêm trăng như thế hơn chục năm trước, Sơn và Quỳnh Thư sau cả một
buổi chiều cùng đám nhóc chạy theo đoàn làm phim xem quay cảnh “Mỵ Châu Trọng
Thuỷ” đã nán lại bên bờ hồ Tịnh Tâm này thủ thỉ tâm tình, hẹn thề với nhau lời
nguyền chung thuỷ. Nghe nói ngày xưa, các vua nhà Nguyễn sau buổi thiết triều, thỉnh
thoảng cũng thường tới đây để thưởng ngoạn, tìm những phút thư giãn để tâm hồn
tĩnh lặng lại sau một ngày vất vả lo toan cho đám thần dân; nhưng bây giờ thì
Sơn ngồi đây với một tâm trạng rối bời.
Ngôi thuỷ đình với chiếc mái
ngói cong cong bị những cành cổ thụ vươn dài phủ trùm, chia cắt ra nhiều mảng
nhỏ in hình trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng giữa mấy đọt ngó sen lô nhô, biến thành
một vệt dài đen thẫm trông dị dạng chẳng khác nào khuôn mặt của Sơn sau những
ngày bươn chải giữa cảnh đời hoang mạc. Mùi của bùn, của nước, của lá cây mục
và cả mùi hương hoa nữa đan quyện vào nhau thành một thứ mùi tạp nham khó ngửi,
nhưng sao nó quen thuộc, gợi nhớ tới người xưa da diết đến thế nhỉ?!
… Một đám mây lớn chầm chậm
bay qua, thoáng chốc, bầu trời tự nhiên tối sầm lại, Sơn ngồi tỉ mẩn cầm từng viên
sỏi nhỏ tung xuống mặt hồ rồi dõi theo những vòng hoa sóng bám, đuổi bắt nhau, thốt
nhiên bật lên tiếng thở dài cảm thán: “Quỳnh Thư ơi! Em mãi mãi vẫn là một phần
đời không thể thiếu của riêng anh”.
Có
tiếng chân khua nước đâu đây phía dưới dãy hành lang ẩn khuất sau khúc quanh
của ngôi thuỷ đình u tịch, một tiếng thổn thức nhẹ tênh như ai đó cố tình nén lại,
theo gió thoảng đưa, rồi một bóng đen
chạy vụt qua, chớp mắt mất hút dưới hàng cây tím thẫm. Anh giật mình, hoang
mang nhìn theo, chỉ kịp nhận ra một bóng dáng thon thả thân quen đến lạ…
Ngoài kia, tiếng gió vẫn lao
xao rền rĩ trên những tán lá xào xạt vọng khắp mặt hồ. Một loại tiếng như được
sinh ra từ cõi bờ xa thẳm.
Tháng 6/2012
Nguyên Đạt
