Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Tự Tình Tuổi Sáu Mươi

Khi mình tuổi sáu mươi
Tâm hồn ưa thay đổi
Buồn vui thường vô lối
Không thấy nẻo đi-về
Ngày cứ dài lê thê
Đêm mối sầu vạn cổ
Chập chờn ru giấc ngủ
Cho mây núi giăng mùng

Khi mình tuổi sáu mươi
Thời gian là nỗi nhớ
Khung trời quê một thuở
Bao kỷ niệm dấu yêu
Mải mê với cánh diều
Giữa trời cao lồng lộng
Tuổi thần tiên thơ mộng
Ôi quá đỗi thân thương

Khi mình tuổi sáu mươi
Tháng năm như chững lại
Chuyện nhân tình thế thái
Thôi đừng quá bận tâm
Tìm thú vui thanh bần
Bên chung trà chén rượu
Cùng bạn bè thân hữu
Xướng hoạ vịnh thơ ca
Cuộc sống vui chan hoà
Tâm hồn luôn thư thái

Nguyên Đạt

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

NGUYÊN ĐẠT - Những bài viết của Bạn bè

Phú Yên - Đất & Người > Người Phú Yên
19 Tháng Giêng 2006 5:49 CH (GMT+0700)



Ngườ Thổi Sáo Dưới Trăng


*Gần một phần tư thế kỷ nay ông gắn bó với đêm thơ Nguyên tiêu, từ khi chương trình này xuất hiện ở Thư viện Hải Phú cho đến khi được tổ chức trên đỉnh núi Nhạn lộng gió. Ông ngồi khiêm nhường ở một góc sân khấu, đầu đội mũ bê-rê, ống sáo thanh mảnh trong tay. Những vần thơ vút lên, quyện với tiếng khoan nhặt của đàn tranh, tiếng thủ thỉ của đàn bầu. Bữa tiệc thơ trở nên lung linh sống động.


Ít ai biết rằng chủ nhân của tiếng sáo trong trẻo ấy, con người thanh thanh và lặng lẽ ấy đã ôm ấp một khát vọng đã vỡ tan, đã nếm trải đắng cay, đã từng mất lòng tin vào cuộc đời...
Mỗi mùa xuân đến, người ta lại gặp Nguyên Đạt. Đúng hơn là gặp tiếng sáo của ông, khi mỏng tang như một làn sương bay lên rồi tan biến trong những vòm lá của công viên Diên Hồng, khi réo rắt quyện vào ánh trăng Nguyên tiêu trên đỉnh Nhạn Tháp. Tiếng sáo bay lên, mang theo những buồn vui khổ hạnh, những cảm xúc, tâm tình. Khi ấy, ông mới thực là ông.
Nguyên Đạt chơi nhạc, làm thơ và viết truyện. Năm nào trang thơ của đặc san xuân cũng có bài của ông. Thi thoảng, ông viết tạp bút. Tập truyện ngắn Bên khoảng đời khát vọng xuất bản vào giữa năm 2000 làm không ít người bất ngờ. Lần giở từng trang sách, bầu bạn càng bất ngờ hơn khi nhận ra ông viết về chính cuộc đời mình, về khát vọng “bục giảng, bảng đen, phấn trắng” được nuôi dưỡng từ thuở bé thơ đã bị vỡ tan vì những định kiến nghiệt ngã.

Năm 1968 Nguyễn Dạc tốt nghiệp trường Sư phạm QuiNhơn, trở thành ông giáo tiểu học ở huyện Tuy Hòa, gắn bó với bục giảng tới năm 1983, ông bị cơ quan cho nghỉ việc với lý do "không đủ tiêu chuẩn vào biên chế chính thức". Từ cái hụt hẩng bất ngờ tưởng chừng như phi lý đó, ông bỗng nhiên cảm thấy mất mát lòng tin ở tình người, ở cuộc sống.

Từ một thầy giáo, ông trở thành “chú bán trứng vịt lộn” trên sân ga Tuy Hòa hằng ngày để mưu sinh. Nỗi buồn, sự chờ đợi được lưu dụng để rồi thất vọng cũng chật cứng như những chuyến tàu chợ ra vào ga khi ấy.
Ngày nọ, đang bán trứng vịt, Nguyên Đạt tình cờ nghe chương trình ngâm thơ trên sóng phát thanh. Tiếng thơ, tiếng đàn tranh làm cảm xúc dâng lên như thủy triều. Ông liền về nhà đem sáo ra thổi. Nhiều người dân trong cái xóm nghèo cứ ngỡ ông bị … thần kinh!
Chuyện người bán trứng vịt lộn biết thổi sáo ở xóm Ga tình cờ đến tai ông Dương Thái Nhơn, giám đốc Thư viện Hải Phú, khi ông đang kiếm tìm một “sáo sĩ”. Nguyên Đạt đến với đêm thơ Nguyên tiêu như thế, từ khi chương trình này mới đôi ba tuổi, tổ chức tại thư viện và chỉ có một giọng ngâm là chị Ngọc Hà.
Tuổi thơ của ông gắn với cái tên Cư Lạc, một làng nhỏ nằm bên bờ phá Tam Giang. Cha mẹ theo những con thuyền ngược xuôi buôn bán, Nguyên Đạt ở nhà với ông bà nội. Chính ông nội đưa Nguyên Đạt làm quen với cây sáo trúc, tập thổi bài đầu tiên là Kim Tiền-Lưu Thủy u liêu xề cống liêu… Đi qua tuôỉ thơ, dòng đời đưa đẩy ông bằn bặt xa làng Cư Lạc. Thời trai trẻ, đã có lúc ông say mê cây đàn điện tử mà lãng quên tiếng sáo. Nhưng rồi cùng với thời gian, ông ngộ ra người bạn tri kỷ của mình và nhớ lời dặn dò năm xưa của nội: Luôn giữ cho tiếng sáo tinh sạch, thanh tao…
Nguyên Đạt chơi được đàn bầu, đàn tranh song thân thiết nhất vẫn là những cây sáo trúc mà ông tự làm lấy. Người ta biết đến ông như là một nhạc công không thể thiếu trong các chương trình ngâm thơ. Ở thành phố nho nhỏ và không mấy ồn ào này, Nguyên Đạt là một “sáo sĩ” được nhiều người yêu mến, sau hơn 20 năm chung thủy với đêm thơ Nguyên tiêu.
Tên ông lẽ ra là Nguyễn Nhạc, do ông nội đặt cho. Đi làm giấy khai sinh, người ta nghe nhầm, ghi thành Nguyễn Dạc. Cái tên không như ý, đời ông cũng có những ngả rẽ không như ý. Nhưng chí ít, ông cũng tìm được hạnh phúc bình dị trong niềm đam mê âm nhạc, trong sự đồng cảm và trân trọng của người bạn đời và bầu bạn. Mỗi dịp hội thơ, từ một góc khiêm nhường trên sân khấu, với chiếc mũ bê-rê quen thuộc đội đầu, ông dốc hết lòng mình vào tiếng trúc. Những âm thanh dìu dặt, réo rắt bay lên. Những buồn vui, khổ hạnh bay lên. Chỉ còn tình thơ, ý nhạc trong chếnh choáng trăng vàng.

LÂM VY

Sáo sĩ Nguyên Đạt
Thứ hai, ngày 19 tháng năm năm 2008

Người thơ đệm sáo đỉnh trời…

Bài và ảnh Đức Tuấn

Vậy là Hội thơ Nguyên tiêu truyền thống núi Nhạn (Phú Yên) vào xuân Đinh Hợi này liên tục là lần thứ 27; và núi Nhạn có lẽ là ngọn núi thơ nổi tiếng nhất nước, với kỷ lục thi hữu và bát ngát công chúng mến mộ hiếm thấy. Hơn một phần tư thế kỷ, thơ được đưa lên đỉnh núi Nhạn (thành phố Tuy Hòa), trong nhiều ấn tượng đọng lại, có dáng hình hao gầy của một nghệ sĩ đệm sáo; đôi khi thần sắc anh nghiêng ngã thả trọn theo tiếng sáo thơ, tôi chợt nhận ra dường như anh đã quên bẵng là đang biểu diễn trước ngút ngàn công chúng yêu thơ hiếm thấy của xứ sở cuối dòng sông Ba…
Người đó là Nguyên Đạt, một người viết văn, một “sáo sĩ” điêu luyện luôn đau đáu chuyện làm đẹp thêm cho thơ để đưa đến người thưởng thức. Anh còn là một người viết văn, làm thơ khá chuyên nghiệp… Nguyên Đạt tên thật là Nguyễn Dạc, sinh năm 1946 tại Quảng Điền (Sịa)- Thừa Thiên Huế, phiêu bạt đến Phú Yên dạy học và lập gia đình quá nửa thế kỷ rồi nhưng chất giọng, dáng nét vẫn còn rặt chất người của phá Tam Giang. Người truyền nghề thổi sáo cho anh khi còn ở quê lúc mới lên mười chính là ông nội, với mong mỏi đứa cháu “luôn giữ gìn cho tiếng sáo tinh sạch, thanh cao”. Sau này, trong tập truyện ngắn Bên khoảng đời khát vọng (NXB Trẻ, 2000), Nguyên Đạt viết: “Dưới ánh trăng thượng tuần còn mờ nhạt không đủ soi rõ mặt người của một đêm hè oi ả, nội và tôi ngồi trước sân nhà say mê luyện tập bài sáo đầu tiên u liêu xề cống liêu - u xang ú lưu cống lưu xề - cống lưu công xê xàng xự xàng xê... Quá nửa đêm một chút thì tôi hoàn thành bài sáo nhập môn “Kim tiền-Lưu thủy…” (Truyện Dòng sông thơ trẻ). Thế rồi từ đó chiếc sáo trúc đã gắn bó yên ủi vỗ về đời anh trên bước đường luân lạc. Năm 1968, tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, Nguyên Đạt vào Tuy Hòa (Phú Yên) dạy học gần suốt 20 năm. Nhưng rồi anh buộc phải từ giã cái nghiệp dạy học vì lý do không đủ tiêu chuẩn vào biên chế chính thức...(?). Tiếng sáo và văn chương lại như được dịp bùng phát réo rắt, dịu xoa niềm tiếc nuối của đời anh, nhất là những ngày gian khó của thời bao cấp mà lại bị mất việc làm. Những năm tám mươi của thế kỷ trước, cả nhà anh phải tần tảo đủ nghề buôn thúng bán bưng, trong đó, “ông giáo bán trứng vịt lộn” đã được bà con xóm ga Tuy Hòa gắn cho anh hiện vẫn chưa trôi vào quên lãng. Anh làm thơ, viết truyện ngắn và tạp văn khá nhiều vào giai đoạn này nhưng nỗi nhớ nghề sáo và những đêm thơ thời sinh viên, đi dạy vẫn thao thức không nguôi. Nguyên Đạt nhớ lại một chiều ngồi bán trứng, chợt nghe loa truyền thanh phát chương trình thơ, thế là tiếng đàn tranh – sáo – thơ đã làm anh mất ngủ, ngồi bờ hè thổi sáo suốt đêm… Sáng mai, anh xách sáo đi tìm bạn. May vợ anh cũng là một cô giáo yêu nghệ thuật, chị với theo: “Ừ, anh đi tìm đi…”…
Và người đưa Nguyên Đạt đến với đêm thơ Nguyên tiêu Phú Yên là anh Dương Thái Nhơn (Giám đốc Thư viện tỉnh) và nhà thơ Nguyễn Tường Văn (Biên tập chương trình văn nghệ Đài Phát thanh Phú Yên). Ấy là năm 1989, khi Phú Yên vừa tách với Khánh Hòa, chương trình thơ của Đài tỉnh đang thiếu những giọng ngâm và những người đệm thơ. Thế là lò của quý gồm sáo trúc Nguyên Đạt, đàn bầu Mai Hoàng, đàn tranh Hoàng Hường, ngâm sĩ Ngọc Hà, Vân Phí, Bích Trâm,Thu Thủy… đã có đất dụng võ. Nhưng có lẽ những đêm thơ Nguyên tiêu trên đỉnh núi Nhạn mới thực sự tỏa hết cái hồn của Nguyên Đạt với cây sáo trúc. Theo anh, đó là niềm cảm hứng cộng hưởng và giải bày giữa những người đồng điệu, giữa đất trời thiêng liêng. Đó mới là chỗ của sáo trúc, đó mới là chỗ của thơ, thơ và sáo đã dìu nhau, làm đẹp cho nhau qua bước đường trập trùng mây núi… Bây giờ, đã hơn hai mươi lăm năm rồi, tiếng sáo Nguyên Đạt là một phần hiển nhiên của Hội thơ Nguyên tiêu đỉnh Nhạn – nơi là một yếu tố góp phần đưa đến quyết định của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày Thơ Việt Nam; sau tham luận tha thiết của nhà văn Nguyễn Gia Nùng trên tạp chí Nhà văn năm 2002; “Thơ Nguyên tiêu mở ra khắp nước-Phú Yên ta đi trước nhiều năm” (Khuyết danh)... Và như nhiều danh sĩ nhận xét, thật hiếm nơi đâu mà tất cả các huyện, thành trong tỉnh đều được liên tục đứng ra tổ chức các đêm thơ xuân truyền thống với đầy ắp sự trân trọng và bát ngát công chúng yêu thơ. Chẳng những thế, tại nhiều cơ quan, trường học, xã phường, xóm ấp,… những buổi thơ xuân, bình thơ, ngâm thơ vẫn đều đặn diễn ra với một sự mộ điệu khó tả. Một hồn sáo, hồn thơ của người con đất Huế như Nguyên Đạt lại được đất bay bổng muôn trùng. Thực sự, trong những ngày xuân này, nghệ sĩ sáo nhà ta đã phải “chạy sô” không ngớt, khi thì Sơn Hòa, đêm mai đã Sông Cầu, đêm mốt đã Đồng Xuân, rồi khép lại mùa thơ xuân bằng Nguyên tiêu Nhạn Tháp. Chữ “chạy sô” tôi phải đặt trong ngoặc là vì hầu như những đêm thơ này không có cát-xê, đôi lúc chỉ vài chén rượu, chẳng cần lời cảm tạ,...
Còn chuyện vui buồn nghề thổi sáo cho những đêm thơ, Nguyên Đạt xin tôi đừng nhắc, “âu cũng là cái nghiệp cầm ca…”, anh âm trầm. Nhiều lúc buồn, anh đã định đập sáo, nghỉ chơi nhưng rồi làm sao cưỡng lại mệnh trời, cưỡng được cái nghiệp dĩ? Trò chuyện cùng tôi, anh nhắc nhiều đến người bạn cố tri Nguyễn Văn Phương (Phương Xích lô) với những câu thơ tặng trước khi mất: “Nguyên tiêu tìm về núi Nhạn - Để như chim nhạn ngày xưa - Tháp Chàm hóa thành tổ cũ - Khói hương tỏa ấm hồn thơ

Đã có quá nhiều thi sĩ lừng danh ghé qua Tuy Hòa để một lần được lên núi Nhạn đọc thơ, để “Ai chưa tin vào sức mạnh của Thơ không gì thay thế/Xin hãy về với Hội Thơ núi Nhạn đêm nay”. Và rồi nửa thế kỷ thơ lên đỉnh Nhạn, ai còn ai nhớ tiếng sáo của chàng Nguyên Đạt, người chuyên làm đẹp cho thơ, cho bạn bầu thi hữu, khách tri âm giữa đất Phú trời Yên lồng lộng gió sông Ba…
Gặp lúc Nguyên Đạt đang khấp khởi với tập truyện ngắn thứ 2 “Món quà từ trái tim” vừa ra khỏi nhà in. Ông âm trầm: “Hồi xưa là đi dạy, bây giờ “chuyên nghề” là viết văn, làm thơ và thổi sáo. Nguyên tiêu này, tôi lại lên núi dìu thơ; tôi còn thổi sáo cho Hội Thơ này đén khi nào… xuôi tay”.
Đào Đức Tuấn

Tin tức > Giải trí > Sách báo - Văn thơ
Người thổi sáo đêm thơ núi Nhạn
Xem tin gốc
Tuổi Trẻ - 20 tháng trước 112 lượt xem

Người Thổi sáo đêm thơ Núi Nhạn

TT - Nếu như đêm thơ Nguyên tiêu của Phú Yên tròn chẵn 30 năm, thì Nguyên Đạt là người đã có 28 năm mang tiếng sáo hòa nâng tiếng thơ. Bởi từ khi đêm thơ Nguyên tiêu của Thư viện Hải Phú (Tuy Hòa, Phú Yên) quyết định mang ra trình diễn trước công chúng (1983) thì Nguyên Đạt là người được mời đến để lo liệu phần âm thanh.
Lúc này Nguyên Đạt đang là “ông vịt lộn” ở ga Tuy Hòa, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng trước lời mời nồng hậu ấy.
Nguyên Đạt người gốc Huế, vào Tuy Hòa dạy học từ năm 1968-1983, sau đó thôi dạy lên ga làm nghề bán trứng vịt lộn kiếm tiền nuôi con. Ở ga Tuy Hòa nhiều người còn nhớ hình ảnh một “ông vịt lộn” với chiếc xe đạp cà tàng, đi đâu cũng vắt cây sáo bên người.
Nguyên Đạt kể ông được ông nội truyền dạy thổi sáo khi còn rất nhỏ, là niềm tự hào của ông nội vì chỉ mình ông là học được những điệu sáo hay và khó nhất. Khi trưởng thành, bôn ba giữa cuộc đời, Nguyên Đạt vẫn không rời cây sáo. Ông tâm sự: “Mình sống được là nhờ tiếng sáo. Từ thổi sáo, mình đọc thơ rồi lại làm thơ. Với tiếng sáo, lúc nào niềm cảm hứng cũng như thuở ban đầu, chỉ vì thơ chứ không vì một điều gì khác”.
Những ống sáo của Nguyên Đạt đều do ông tự chế tác nên dễ điều khiển theo giọng cao thấp. Lại là người am hiểu làn điệu nên Nguyên Đạt biết chọn người, biết bài nào nên hòa theo điệu Huế, giọng Băc hay ngâm sa mạc, ngũ cung hoặc dựa theo làn điệu dân ca...
Nhưng Nguyên Đạt không phải là người thổi sáo thuần túy, ông còn làm công việc của một người đi tìm giọng đọc, giọng ngâm cho từng tác giả, từng bài thơ. Nghe ở đâu có người yêu thơ, có giọng ngâm, giọng đọc hay là Nguyên Đạt đạp xe đến tìm, rồi thử giọng, rồi cùng nhau luyện tập.
Từ đó hình thành nên nhóm Hương Phú, ngoài Nguyên Đạt còn có Ngọc Hà, Vân Phi, Bích Trâm, Thu Thủy, Hoàng Hường, Túy Ba, Nguyễn Đình Quảng, Nguyễn Đình Phú, Phan Kim Việt... Đây là nhóm nhạc cây nhà lá vườn đồng hành cùng đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn suốt từ bấy đến nay.
Mấy năm nay Nguyên Đạt theo con cái định cư ở Mỹ, nhưng vẫn cố gắng trở về để tham dự đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn, vẫn hòa tiếng sáo nâng tiếng thơ như không hề có gánh nặng tuổi tác trên vai. “Mình muốn làm người tình chung thủy của đêm thơ núi Nhạn, dẫu có ở góc biển chân trời nào” - Nguyên Đạt nhỏ nhẹ tâm tình như vậy.
Nhìn người đàn ông dáng cao gầy, mái tóc bạc trắng, ánh mắt lấp lánh niềm vui ấy; chợt mường tượng hình ảnh một “ông vịt lộn” ngoài ga Tuy Hòa, hay một người đang đạp xe phất phơ trong gió nắng đồng quê với cây sáo vắt bên người. Và thấy rõ nhất là hình ảnh một nghệ sĩ thổi sáo mê đắm dưới ánh trăng rằm bên tháp cổ Champa trên đỉnh núi Nhạn hào phóng gió.

Việt Quê - Báo Tuổi trẻ

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

TIẾNG SÁO THA HƯƠNG - Tường Huy

Tặng Bảo Cường - Nguyên Đạt

Thương ai héo hắt nụ cười
Tiếng ru não nuột buộc đời tha hương
Nhịp môi sáo trở điệu buồn
Rung hơi rả tiếng đoạn trường xót xa
Nam ai thổn thức quê nhà
Nam bình chợt nhớ mẹ cha buốt lòng
Khua chèo đẩy nhịp trên sông
Trăng chao sóng bạc bềnh bồng thuyền ai
Khép môi nén tiếng thở dài
Đêm quay quắt nhớ ngày day dứt tình
Quê người nửa kiếp lênh đênh
Nương theo tiếng sáo mưu sinh với đời
Vuốt tay... nắn giọng... hò ơi...
Tiếng hò ơi... níu... bỗng... rời... rả... buông...!
Nương hơi gió thoảng về nguồn
Lần theo con suối... bồn chồn nhớ sông
Mênh mông nắng trải trên đồng
Xanh om ngọn lúa, phập phồng hơi thu
Bờ tre thoảng tiếng chim gù
Chiều thơm hương rạ, khói mờ liếp tranh
Gió xô mưa tạt khoe mành
Hồn tê đời mỏi kinh thành quận sương
Tiếng hò đẩy gió sông Hương
Thuyền mơ cập bến Tầm Dương... vắng người!
Thắt lòng tiếng sáo chơi vơi
Thương ai đi giữa phố đời loay hoay
Rồi mai chim trở về bầy
Vườn xưa ríu rít nắng đầy trời xanh

Đà Lạt Tháng 4/07

Đêm buồn nhớ bạn

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

CHÚ VỊT BẦU - Truyện Thiếu Nhi


Nấu xong nồi cháo trắng, bé Mai múc ra một tô đầy bưng lên nhà, bước tới chiếc chõng tre cầm tấm mùng vàng ố, lổ chổ đầy vết dán nhậm cẩn thận cuốn lên rồi khẽ khàng gọi mẹ:
-Mẹ. Mẹ ráng dậy ăn bát cháo nóng đi mẹ.
Nghe tiếng con, bà Tư nặng nhọc trở mình, giương đôi mắt lờ đờ hỏi:
-Ủa. Sáng rồi hả con?
-Dạ. Đã sáng rồi ạ!
Bé đỡ mẹ ngồi dậy, dùng chiếc khăn tẩm nước ấm lau mặt cho bà rồi dịu dàng hỏi:
-Có thấy đỡ hơn chút nào không hở mẹ?
-Ừ... Khá. Khá hơn nhiều rồi con ạ. Bà đưa mắt buồn buồn nhìn Mai thương cảm: "Tội nghiệp con tôi, mới bây lớn mà đã...".
-Không có gì đâu đâu mẹ. Mai nói vội cho mẹ yên lòng: -Con tự mình lo liệu được mà.
Nhìn thân hình gầy guộc của mẹ, Mai muốn ứa nước mắt, bé biết mẹ nói thoái đi như vậy cho mình khỏi lo lắng đấy thôi, chứ căn bệnh cứ dai dẳng mãi thế này không có thuốc men chửa chạy thì làm sao khỏi được. Đợi mẹ ăn cháo xong, bé thu dọn bát dĩa đem bỏ vào chậu rửa sạch rồi úp lên cái thạp gỗ gọn gàng đâu đó.
Thấy mẹ lại đã nằm xuống, Mai bước ra sân, nhìn trước, nhìn sau rồi len lén bước về phía cuối vườn. Khi đến trước chiếc chuồng, bé phân vân một đỗi, cuối cùng quả quyết nhấc cánh cửa lên, lập tức từ bên trong, một chú vịt múp míp lạch bạch chạy ra, ngoan ngoãn nhảy lên nằm gọn trên tay cô chủ; chú dịu dàng dùng cái mỏ bèn bẹt rúc rỉa lên mình cô một cách thích thú, nhưng chú nào thấy được cô đang nhìn nó với ánh mắt ươn ướt, chan chứa tủi buồn: -Vịt ơi! Tao đành chia tay mày thôi. Bỏ lỗi cho tao nhé! Bởi vì... Cô bé thút thít lẩm bẩm: -Bởi mẹ tao đang bệnh nặng... Mẹ cần... cần tiền chửa bệnh mày à.
*
... Từ ngày cha bị chết trong một tai nạn lao động, gia đình bé vốn đã khó nghèo, lại càng lâm vào cảnh nghèo khó hơn. Để bớt tiền chi tiêu và dễ kiếm cái ăn, cái mặc, hai mẹ con phải kéo nhau ra ven rìa thị xã, lủi thủi sống với nhau. Ở cái xóm xa hẻo lánh như thế này thật là ít bạn, nếu không có chú vịt bầu bên cạnh thì bé cũng chả có mấy ai để chuyện trò đùa giỡn, vui chơi.
Chú vịt được sinh ra trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: Hôm ấy, mẹ như thường lệ lấy trứng lộn ra hấp bán, đang săm soi, chọn lựa, bỗng bà dừng tay, cầm một cái trứng đưa lên tai nghe ngóng rồi rối rít gọi bé: -Này... Con nghe xem. Hình như...
-Có tiếng... chim chíp mẹ ạ! Mai thầm thì trả lời: -Hay là...
-Đúng rồi. Chú vịt trong cái trứng này có lẽ nay mai sẽ nở thôi. Mình không nên giết nó tội nghiệp.
Thế là ngay sáng hôm sau, chú vịt con đạp vỏ lùi lũi chui ra. Chú trông thật ngộ với một túm lông chễm chệ nằm trên chỏm đầu giống như cái mào cùng với chiếc cổ điểm mấy khoang vàng trắng. Và cái mỏ, ôi cái mỏ xinh xinh lúc nào cũng ngọ ngọ, nguậy nguậy trông thật... ghét ghê!
Buổi chiều, bé đôn đáo chạy lên tận xóm trên, năn nỉ thằng Long hết nước miếng mới được hắn đồng ý "bun" cho chiếc lồng cũ mang về, bỏ chú vịt vào, treo lên cây mận. Vậy là thoả mãn rồi nhé. Bao lâu nay bé cứ ước ao có được con chim như các bạn cùng lớp để nuôi cho vui, nay đã có chú vịt xinh xắn, dẫu sao cũng phần nào đáp ứng được nguyện vọng của mình. Bé thầm cám ơn biết bao về món quà bất ngờ của mẹ. Từ đó, nếu gặp lúc bận giúp mẹ làm việc nhà hay lo chuyện học hành thì thôi, mỗi khi rảnh rỗi là bé sà vào chăm sóc chú vịt. Chỉ vừa mới hạ chiếc lồng xuống đất, mở nắp he hé là chú ta đã nhảy xổng ra, lúc thúc chạy theo quẩn chân cô bé, rối rít hết đớp lại mổ những anh ruồi ngã lăn quay dưới chiếc chổi quét nhà được cô chủ sử dụng một cách điệu nghệ. Cứ thế, người và vịt vui đùa, quẩn quanh bên nhau ngày càng thân thiết. Chú ăn nhiều, chóng lớn, chẳng bao lâu chiếc lồng không đủ sức chứa cái thân thể cồ cạp của chú nữa; mẹ phải bỏ ra một "ngày công lao động" giúp Mai lợp cái chòi bằng lá dừa cho chú dùng làm nơi cư ngụ. Vậy là từ nay mỗi tối cô phải cáng đáng thêm phần việc tắm rửa, trải rơm sạch sẽ cho chú vịt trước khi đi ngủ. Bây giờ chú đã trổ mã, lông cánh dài ngoằng, tiếng kêu ồ ề quàm quạp chứ không còn thanh thanh như trước; bù lại, chú biết cách thể hiện tình cảm của mình đối với cô chủ đằm thắm, mặn mòi hơn. Ôi! Vậy mà...
*
-Mai ơi! Cháu ẵm vịt bầu đi mô rứa?
Đang buồn rầu lầm lũi bước, nghe tiếng hỏi cấp tập bên tai, Mai bất giác giật mình, dừng lại, ngước lên thấy bác Ba đang đứng nhìn chăm chăm, vội cúi gầm mặt xuống, lí nhí trả lời:
-Dạ... Cháu mang ra chợ... Dạ. Mẹ cháu...
-Tội nghiệp! Thế mẹ cháu lại trở bệnh nữa hả?
-Dạ...
Bác Ba nhìn Mai thương cảm rồi loay hoay lục túi:
-Thôi. Để bác mua cho. Xem nào... Bác nhắm nhía rồi nắm hai chân vịt nhấc lên, hạ xuống thử được bao nhiêu cân: -Chà. Chú vịt này trông béo ra phết, đem đánh một đĩa tiết canh nhậu ngon phải biết.
Đang đưa tay chuẩn bị nhận tiền, nghe bác Ba nói vậy cô bé giật mình hốt hoảng, vội rụt tay lại, nhưng rồi... cuối cùng cô cũng đành miễn cưỡng trao vịt cho bác, thút thít cám ơn và lủi thủi ra về.
... Mỗi mùa xuân sang, mẹ tôi già thêm một tuổi. Mỗi mùa xuân sang, ngày tôi xa mẹ càng gần... Chả biết là do nhớ thương chú vịt hay lời bài hát nỉ non vẳng lên từ chiếc máy cát-xét nhà ai lọt đến bên tai mà bé cảm thấy lo lắng tủi phận muốn ứa nước mắt... Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi... Mồ côi... Tội lắm ai ơi... Đến đây, bé bịt chặt hai tai chẳng dám nghe tiếp, xoay người úp mặt xuống giường rấm rứt làm ướt đẫm cả chiếc áo gối của mình. Bé âm thầm thăn thỉ với bóng đêm: Mẹ ơi! Mẹ chớ xa con. Con cần có mẹ. Con cần mẹ lắm. Mẹ ơi!
... Ánh nắng ban mai xuyên qua những lỗ hổng trên mái nhà bò lên mặt nóng rát làm bé giật mình thức giấc. Nhìn qua giường mẹ, thấy gối mền được xếp ngay ngắn đâu vào đó, bé mừng thầm trong bụng, biết bà đã khỏi bệnh. Dưới bầu trời loang nắng trước sân nhà, mấy chú chim sẻ đang lích chích tìm kiếm mấy hạt thóc rơi trong đám cỏ non đẫm ướt hơi sương. "Thì ra trời đã sáng bửng từ lâu". Bé lẩm bẩm rồi nhỏm dậy, lật đật bước ra chậu múc nước rửa ráy mặt mũi qua loa; theo thói quen, cô tất tả bước về cuối vườn, nhưng tới nửa đường mới sực nhớ ra liền đứng sựng lại. Niềm vui chan với nỗi buồn làm cho bé gần như mất phương hướng. Nhớ đến người bạn thân thiết của mình, nỗi niềm thương cảm trào dâng, cô bất giác kêu lên: "Vịt ơi! Mày đã giúp tao làm được một việc có ích. Cám ơn mày nhiều lắm. Đừng buồn... Đừng buồn... Vịt nhé"!
Không muốn bước tiếp, bé lững thững đi trở lại vào nhà, định giúp mẹ làm những công việc lặt vặt cho khuây khoả... Bất đồ có tiếng quàm quạp quen thuộc ồn ĩ nổi lên, rồi... một chú vịt bầu múp míp từ đâu nôn nóng sải cánh ào tới.
Bé ngơ ngác đứng im như trời trồng, chẳng hiểu ra làm sao nữa...
Ngước mắt lên, Mai thấy mẹ với khuôn mặt rạng rỡ hơn bao giờ hết đang đứng nhìn mình âu yếm mỉm cười. Con Cún nằm sưởi nắng trước hiên nhà đột nhiên nhỏm dậy sủa rộ lên, đuôi vẫy lia lịa; phía xa xa ngoài kia có bóng ai như bóng thằng Long con bác Ba thấp thoáng ẩn hiện, rồi lẩn khuất phía bên kia hàng dậu.
Chừng như giận dỗi trước sự lạnh nhạt của cô chủ nhỏ, chú vịt bầu ra sức mổ vào bọng chân cô một cú đau điếng…




Tháng 7/2006




Nguyên Đạt

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI - Nguyên Đạt


SƯ PHẠM QUI NHƠN

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình tóc điểm hơi sương
Niềm vui vẫn còn tươi rói
Như thời Sư phạm Qui Nhơn

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình tuổi chớm vào đông
Niềm Tin vẫn ngời lẽ sống
Lung linh bảy sắc cầu vồng

Có khoảng trời riêng để nhớ
Đời mình ý nghĩa biết bao
Không gian là màu xanh thắm
Bình minh lên tiếng vẫy chào

Có khoảng trời riêng để nhớ
Khi mình trở lại trường xưa
Đêm nghe dòng đời thao thức
Xôn xao khúc hát giao mùa

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

DÒNG SÔNG THƠ TRẺ - Nguyên Đạt




Quãng đời ấu thơ và tuổi lớn của tôi đã trải qua ở một làng chài nằm dọc theo bờ phá Tam Giang. Đó là một ngôi làng nhỏ, rất nhỏ, nếu đi bộ từ đầu làng tới cuối làng cũng chưa đầy mươi phút. Nguyên thủy nó gồm có hai ấp: An Cư và An Lạc, sau gộp chung lại thành một cái lên làng: Cư Lạc.
“An cư, lạc nghiệp” là ước muốn muôn đời của tất thảy mọi người nói chung, riêng đối với làng tôi thì đó lại là một ước muốn thiết thân, bởi lẽ hầu hết nơi đây toàn là dân ngụ cư từ nhiều phương rất xa tụ đến. Ngay như dòng họ nhà tôi gốc gác cũng đâu tận vùng đất đỏ ngoài Quảng Trị du cư vào khoảng mấy chục năm nay. Cũng vì sinh sau đẻ muộn, lại gặp thời buổi loạn ly nên làng tôi là làng duy nhất trong toàn xã chưa được nhà Vua công nhận sắc phong.
Cha mẹ tôi phần lớn thời gian theo nước sông hồ đi khắp nơi bán buôn ở những phiên chợ định kỳ nên tôi được ông bà nội lãnh phần nuôi dạy. Cứ thế, tôi lớn dần lên với năm tháng bên cạnh bàn tay chăm sóc từ ái của hai ông bà. Thông qua nội, những tên đất, tên người, tên làng, tên nước, tôi đã thuộc nằm lòng trước khi làm quen với bài học đầu tiên để biết đọc, biết viết những cái tên đó trong các tập sách Sử ký hoặc Địa dư...



Trong ký ức tôi, tới bây giờ vẫn còn đọng lại đậm nét những câu ca dao thấm hoài nỗi nhớ:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Yêu em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang…
Khi đọc tới đây, bỗng nhiên nội bảo tôi dừng lại, rồi hỏi:
-Này! Cháu của ông có biết phá Tam Giang nằm ở mô không?
-Dạ... Thưa ông. Chắc là xa lắm hí?
-Không xa mô cháu ạ. Đó là cái Rào mà cháu và bạn bè thường hay tắm táp, nô đùa trững giỡn ấy mà.
-"Ô! Té ra..." Tôi reo lên ngạc nhiên, bấy giờ mới biết cái Rào còn có một tên gọi khác. Nhưng rồi thắc mắc: "Ông à! Cháu thấy cái Rào cạn xợt, có nguy hiểm chi mô mà người ta sợ dữ rứa"?
-"Ngày trước nó khác lắm cháu à". Ông nội nói: "Hồi đó thường có những con thuồng luồng quậy phá, đánh chìm ghe thuyền cướp đi sinh mạng, tài sản của rất nhiều người và..."
Vậy là tôi được ông kể cho nghe câu chuyện cổ tích về cuộc chiến đấu gian khổ của ông bà tổ tiên để diệt trừ cái mầm họa chung; nhờ thế, con cháu sau này mới được an tâm đánh bắt cá tôm, không còn e ngại gió to sóng cả nữa.
Kho tàng cổ tích của nội nhiều vô kể, cứ như ông để sẵn đâu đó trong túi, gặp lúc cần là lấy ra ngay. Từ những câu chuyện cổ tích đó, ông thường liên hệ với thực tại, dạy cho tôi biết cần phải ăn ở thế nào cho phải đạo làm người. Đó là con người sống ở đời phải có nhân, có nghĩa, có lễ, có tín…v v…
Một lần, gặp lúc thấy ông đang vui, tôi thủ thỉ hỏi:
-Nội ơi! Nội kiếm mô ra lắm chuyện cổ tích rứa?
Ông chăm chú nhìn tôi một đỗi, hiền từ mỉm cười có phần đắc ý rồi lập tức kéo tôi trèo lên căn gác lửng mà lâu nay chỉ mình ông độc chiếm, lui cui lấy ở tủ ra những tập sách dày cộm, lật từng trang, chỉ vào đó và bảo:
-Ở cả trong ni nì. Cháu muốn biết không?
-Nhưng... Cháu... Cháu đâu biết đọc được như ông?
Tôi phụng phịu nói, và nội từ tốn giải thích:
-Muốn biết đọc phải học chữ. Khi biết chữ rồi thì cháu tha hồ mà tìm hiểu, sẽ biết vô khối chuyện đấy. Nào. Bây giờ ông cháu mình cùng học nhé!
Tôi bắt đầu làm quen với mẫu tự A, B, C như thế đấy. Hồi đó, trường Huyện quá xa, nội được tiếng có chút chữ nghĩa trong làng nên bà con nhân đó gởi con cháu tới nhờ ông dạy bảo luôn. Tôi nhớ, vốn liếng của nội độc chỉ có quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư để dạy lũ trẻ tập đọc-tập chép, còn làm toán và tập viết thì ông cứ tùy nghi phóng bút vào vở học trò; vậy mà khi đủ tuổi nhập vào lớp Ba trường huyện, cả bọn học hành cũng giỏi dang chẳng kém cạnh chi ai.
Nội vốn rất mê truyện Tàu, ông thường kè kè một quyển sách bên mình, hễ có dịp rổi rãi là cắm cúi mở ra đọc, nhằm đến hồi cao hứng, ông vuốt râu, dững mày đi một đường “Hành Vân Tẫu Mã” gọn bân, mặc cho lũ đệ tử đang chúi mũi chúi lái ê a học bài ngưng cả lại, há hốc mồm nhìn ông kinh ngạc.
Vào một buổi trưa hè, nội đang nằm lơ mơ trên tấm phản gỗ, bỗng như chợt nhớ ra chuyện gì liền nhỏm dậy, bước tới chỗ chiếc tráp kê ở đầu giường phía sau buồng ngủ lục lọi hồi lâu rồi lôi ra một chiếc kèn loe bóng loáng; sau đó, từ tốn quay trở lại, leo lên phản, hai chân xấp bàn, sửa soạn lệ bộ, khi tư thế đã hoàn toàn thẳng thớm mới trịnh trọng đưa chiếc kèn lên miệng thổi; tức thì một tràng âm thanh thê thiết trổi lên, khi thì dịu dàng uyển chuyển, có lúc lại bi tráng trầm hùng như có một đạo quân đang rầm rập phi mình trên lưng ngựa ầm ào chiến đấu khiến tôi sửng người, đứng như trời trồng, mê mẩn lắng nghe chẳng rời nửa bước. Hỗng biết tự bao giờ, bà con chòm xóm kéo tới lớp trong lớp ngoài say mê theo dõi. Cao hứng, ông thổi luôn một mạch tới bốn năm bài mới nghỉ.
Sự phát hiện này làm tôi nổi lên một đam mê bức thiết; vậy là suốt ngày hôm sau cứ lẽo đẽo theo sát đít nội, nằn nì ông dạy cho mình thổi kèn. Sau một lúc trầm ngâm suy nghĩ, ông thủng thỉnh đứng dậy bước ra vườn cắt một ống đu đủ, múc tô nước thật đầy để ngay trước mặt tôi, bảo:
-Muốn sử dụng chiếc kèn loe này để thổi cho tròn một bài nhạc thì cháu phải biết lấy hơi vòng từ mũi xống miệng suốt từ đầu tới cuối không được ngắt khúc giữa chừng. Bây giờ cháu hãy quan sát ông nhé!
Nói xong, ông từ từ đút ống đu đủ vào tô nước rồi phùng mang thổi. Lạ thay, hơn phút rưỡi trôi qua mà bọt nước trong tô vẫn liên tục sủi lên đều đặn không ngưng nghỉ.
Đưa ống đu đủ cho tôi, ông nghiêm nghị nhìn và bảo:
-Cháu hãy bắt đầu đi, khi nào được như ông thì mới thực hành trên chiếc kèn loe này được.
Suốt một tuần khổ nhọc vật lộn với ống đu đủ cùng tô nước vẫn không sao làm được như nội, tôi thất vọng quá chừng.
Thấy cháu buồn, ông dịu dàng an ủi:
-Không phải bất cứ điều gì mình muốn làm là được ngay đâu. “Có công mài sắt, có ngày nên kim” cháu ạ. Thôi, để đó rồi hạ hồi phân giải, bây giờ ông cháu mình chơi món khác đi.
Chiều hôm sau, ông cho tôi thay đồ mới rồi cả hai dẫn nhau lội bộ cả chục cây số lên tận xã trên, tìm nhà người quen, kiếm cho được cây trúc già vàng ngàu rỗng ruột, đem về, phơi nắng mấy ngày vừa đủ khô. Thêm một buổi lấy que sắt nung nóng dùi lỗ và chuốt gọt, đánh bóng nữa là hai ông cháu có trên tay mỗi người một ống sáo bóng rạnh.
Dưới ánh trăng thượng tuần còn mờ nhạt chưa đủ soi rõ mặt người vào tối mùa hè oi ả đêm ấy… Nội và tôi trải chiếu giữa chiếc sân đất trước nhà say mê luyện tập bài sáo đầu tiên:
“U liêu xề cống liêu”. Ông xướng lên và tôi đọc theo: U xang u, liêu cống liêu xề. Cống liêu cống, xê xàng xự xàng xê...
Quá nửa đêm một chút thì tôi đã hoàn thành xong bài sáo nhập môn "Kim tiền-Lưu thủy".
Từ đấy, tôi quên phéng luôn chiếc kèn loe với tô nước đầy, sôi tràn bọt sóng.
… Năm tháng đi qua, dòng đời đẩy đưa làm cho tôi mỗi lúc càng xa ngái làng quê có người ông yêu dấu. Tôi đã trải qua không biết bao thăng trầm chìm nổi, nếm đủ cả đắng cay lẫn cả ngọt bùi; nhưng những năm tháng đáng nhớ nhất trong đời tôi vẫn là những tháng ngày êm ả bên người ông yêu dấu. Tôi đã từng làm người thổi sáo rong, đi bán sáo dạo, nay ở đầu đường, mai ở cuối chợ, chủ nhật thì với một túi sáo đầy lưng, đem tiếng sáo mua vui kiếm tiền độ nhật. Rồi một ngày, tôi chợt nhớ ra cái nguyên tắc mà nội đã truyền thụ hồi xưa khi làm ống sáo ban đầu. Tôi mày mò nghiên cứu, chế ra đủ các loại sáo ngang, sáo dọc, ống địch, ống thiều… Bây giờ tôi đã có một cơ ngơi nho nhỏ bán đầy đủ các loại nhạc cụ dân tộc do công xưởng tại gia làm ra.
“Cháu ơi! Đừng bao giờ nản lòng. Cháu phải biết ước mơ, và điều quan trọng là cháu phải có quyết tâm thực hiện ước mơ đó”.
Tôi đã làm theo lời khuyên của nội và đã có chút thành đạt trong cuộc sống. Đó cũng là nhờ may mắn được bảo bọc trong chiếc nôi đầu đời có vòng tay bao dung chăm chút của nội, quyện hòa với những huyền thoại bên dòng sông thơ trẻ…

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

ÔI TIẾNG HUẾ CỦA TÔI - Phan Cư K5




Tôi xa quê hơn 40 năm. Sống ở nơi đất khách quê người, tiếp xúc đủ hạng người, đủ thứ tiếng nói nhưng tôi vẫn giữ giọng Huế rặt của mình. Mỗi lần về thăm quê, tôi rất thích đi chợ Đông Ba, không phải để shopping mà để nghe giọng Huế. Đi vào chợ là tràn ngập những âm thanh quen thuộc; trên đầu, dưới chân, bên phải, bên trái đâu đâu tôi cũng nghe những tiếng nói yêu thương, tiếng nói “ấm trầm mà sâu lắng lạ”.
Cũng vì giọng Huế “rặt” không pha trộn mà tôi hay bị bạn bè chọc là “nói chi mà trọ trẹ rứa” hoặc “Sao nói chi mà nghe đặc sệt mùi mắm ruốc vậy”. Nhiều khi vui nhậu cùng thân hữu, tôi nghêu ngao sửa lời bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng Huế tôi, từ khi mới ra đời…”
Cũng vì mỗi tỉnh, mỗi miền đều có tiếng nói riêng mà nhiều khi người ta choảng nhau cũng bởi nhại giọng, “chửi cha không bằng pha tiếng” là vậy.
Do sự biến âm hoặc phát âm mà đôi khi tiếng Huế mang lại cho người ngoại tỉnh nhiều nhận xét thú vị.
Phải nói Huế là đất thần kinh, đất của học hành thi cử nên từ xa xưa người Huế đã rất yêu thích đọc thơ, làm thơ, do vậy giọng nói nhiều khi cũng du dương trầm bổng như ngâm thơ vậy. Một người bạn tôi ở trong Nam, nhân một lần ra công tác ở Huế đã chứng kiến và kể lại cuộc đối đáp của một bà già bán quán tạp hóa và một bé gái khoảng chín, mười tuổi:
-Mụ bán cho tui chai nước mắm.
Giọng nói lên bổng xuống trầm (có nhạc điệu) của em bé khiến bà chủ quán phì cười “mắng yêu”:
-Tổ cha mày, rứa cũng làm thơ.
Anh bạn này cho rằng bà già bán quán nói cũng hay như đọc thơ vậy.
Cũng có lẽ vì cái giọng thơ, cái giọng ngọt ngào, trầm ấm đó mà ngày xưa mấy anh học trò xứ Quảng ra thi đã liêu xiêu đôi chân khi gặp người con gái Huế:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời
Thế nhưng tiếng Huế đôi khi cũng tạo ra cho người xứ khác những hiểu lầm dẫn đến những trận cười vui vẻ.
Chẳng hạn, người Huế khi phát âm những tiếng có dấu hỏi (?) hay dấu sắc (‘) thì người khác tỉnh thường nghe ra là dấu nặng (.). Xin được kể lại mấy câu chuyện sau đây:
Chuyện thứ nhất:
Có một anh người Huế làm Phường trưởng ở huyện Hòa Vang gì đó thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Một hôm họp liên tịch ở phường, thành viên dự họp hầu hết là người Quảng, người Nam hay Bắc. Như thường lệ, anh Phường trưởng đứng dậy điểm danh. Anh hỏi:
-Bên chị em phụ nữ đủ chưa?
Cả hội trường, mọi người cười cái rần. Anh chủ tịch ngẩn người, không hiểu gì cả nhưng vẫn tiếp tục điểm danh:
-Nông dân đủ chưa?
Bây giờ thì mọi người tham dự òa lên cười ngặt nghẽo. Lần này anh chủ tịch lại càng ngơ ngác nhìn mọi người rồi cũng ngỏn ngoẻn cười theo.
Khi tan họp, anh hỏi nhỏ một bác người Quảng trong hội nông dân:
-Răng hồi nảy tôi điểm danh, mọi người lại cười dữ rứa?
Bác nông dân vỗ lưng anh chủ tịch, cười khà khà:
-Eng nói lọa rứa. Đủ chưa thì nói đủ chưa, cứ đ. chưa, đ. chưa, ai mòa không cười.
Chuyện thứ hai:
Một anh thanh niên Saigon vào hớt tóc ở một tiệm hớt tóc thanh nữ. Cô chủ tiệm là người Huế, sau khi mời anh ngồi vào ghế, lấy khăn quàng qua người xong, lên tiếng hỏi khách:
-Anh cắt dài hay cắt ngắn? (Xin lỗi! Hiểu sao thì hiểu. Không dám diễn nôm)!
Anh chàng Saigon nghe vậy thốt nhiên hốt hoảng đứng bật dậy, cuốn gói bỏ đi một mạch, mặc cho cô thợ hớt tóc đứng ngẩn tò te nhìn theo tiếc rẻ.
Chuyện thứ ba:
Một anh người Huế vào Saigon thăm người con đang học đại học. Đang loay hoay tìm đường thì gặp một người cảnh sát giao thông đi tới. Anh mừng rỡ hỏi:
-Đường ni là đường mô ri eng?
Anh cảnh sát sửng người suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
-Đường này không phải là đường Mô-ri-en mà là đường Nguyễn Huệ.
Anh người Huế nghe ra, thẩm ý thẩm tình lỏn lẻn cười, tiếp tục đi tìm người chỉ đường khác…
Tôi có một thằng bạn người cùng làng, nhỏ học trường Huyện, lớn lên rủ nhau thi vào Sư Phạm Qui Nhơn. Ông nội hắn vốn là một người thông nho lại còn biết cả chữ quốc ngữ, đặt tên cho người anh là Lễ, hắn là Nhạc. Cũng do tiếng Huế chữ nhờ (Nh) thường kêu bằng âm dờ (D) nên khi đi làm giấy khai sinh đáng lẽ viết Nguyễn Nhạc thì ông Lục sự lại phóng bút ra Nguyễn Dạc (trong tự điễn chữ dạc chỉ là tiếng đệm chứ không có nghĩa gì hết). Vậy là từ đó hắn phải mang cái tên bất như ý suốt đời. Ra trường vào dạy học ở Phú Yên, người bản địa thường đọc chữ vờ (V) thành chữ dờ (D); nên cứ ngỡ là tên Vạc, mỗi lần tiếp xúc, phụ huynh học sinh sợ gọi tên Dạc e không đúng, có lỗi, bèn một điều thưa thầy Vạc, hai điều thưa thầy Vạc khiến thầy dở khóc dở cười chả biết đường nào mà đính chính!
Tiếng Huế của tôi là vậy đó; khi dịu dàng, khi trầm ấm, khi mượt mà như thơ mà đôi khi cũng tạo cho người nghe khác tỉnh những cảm nhận thích thú và trào lộng, một sự trào lộng rất dễ thương
Ôi tiếng Huế của tôi!
Dalat 27.8.2010
Cuphandalat


TIẾNG HUẾ

Đi đâu thi` nói "đi mô"
"O nớ" ám chỉ "Cái Cô" chung trường
"Ốt dột" khi tui nói thương
Có nghĩa "mắc cỡ" má vương nụ hồng.

"Khôn" là đồng nghĩa với không
Chẳng muốn lấy chồng, "khôn muốn lấy dôn"
"Đoản hậu" là "Ác" en ni
Tui đã ... im lặng cứ đi theo hoài

Nhà tui còn khoảng đường dài
Có chi noái nấy, ngày mai hết rồi
Trên cao thì nói "trên côi"
"Đi rượng" là lúc sóng đôi như chừ

"Phủ phê" là lúc thặng dư
Như là tình cảm "đã nư", no đầy
"Như ri" có nghĩa như vầy
... Mô Tê Răng Rứa, em quây ... mòng mòng

Tác giả: Cai Vĩnh
Có bản quyền đăng kí - Không "đạo văn"